sáng kiến kinh nghiệm tập làm văn lớp 5
Những Bài Làm Văn Mẫu 6 - Tập 1 (Chân Trời Sáng Tạo) (Biên Soạn Theo Chương Trình Giáo Dục Phổ Thông Mới) Special Price 46.500đ Giá bìa: 50.000đ
Rèn luyện kỹ năng viết tập làm văn miêu tả cho học sinh tiểu học lớp 5. Một số biện pháp nâng cao chất lượng kỹ năng nghe hiểu môn tiếng anh lớp 3,4,5. Nâng cao kinh nghiệm giảng dạy chất lượng và chuyên nghiệp của khối lớp 4 và 5. Hướng dẫn phương thức giáo dục đạo đức và áp dụng kỹ năng sống cho học sinh tiểu học lớp 3.
skkn một số kinh nghiệm khi dạy toán chuyển động đều cho học sinh lớp 5. rèn luyện kỹ năng viết văn miêu tả cho học sinh. một số biện pháp rèn kĩ năng viết đúng chính tả cho học sinh lớp 3 trường tiểu học lăng hiếu trùng khánh cao bằng. khảo sát chương trình đào tạo
Sáng kiến kinh nghiệm một số biện pháp rèn kỹ năng học tốt môn tập làm văn ở lớp 5. Nội dung cơ bản của sáng kiến: Rèn kĩ năng làm văn cho học sinh, rèn cách nghe và cảm thụ bài văn, rèn kĩ năng cho học sinh cảm thụ cái hay của một đoạn văn hay một bài văn, rèn kĩ năng viết đoạn văn cho học sinh. Duy Khánh 820 13 pdf
Cách giúp bé 5-6 tuổi làm quen với văn học để nâng cao trình độ ngôn ngữ Sáng kiến kinh nghiệm mầm non 5-6 tuổi: Một số biện pháp giúp trẻ 5-6 tuổi học tốt các môn khoa học trước khi vào lớp 1 (theo lớp); sáng kiến kinh nghiệm trong công tác chủ nhiệm lớp; Sáng
Bìa: Sáng kiến kinh nghiệm: Phương pháp dạy tập làm văn miêu tả cho học sinh lớp 5. Bạn đang xem nội dung tài liệu Bìa: Sáng kiến kinh nghiệm: Phương pháp dạy tập làm văn miêu tả cho học sinh lớp 5, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên.
Vay Tiền Cấp Tốc Online. Bạn đang xem tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Giúp học sinh học tốt phân môn Tập làm văn Lớp 5", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trênn trôi những biện pháp ấy được tôi đúc kết thành những kinh nghiệm nhỏ nhưng đối với tôi là rất quý báu và là hành trang để tôi tiếp tục thực hiện và hoàn thiện hơn trên con đường dạy học của mình. Tôi xin được chia sẻ qua nội dung của đề tài “Một vài kinh nghiệm giúp học sinh học tốt phân môn Tập làm văn lớp 5”. B/ ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH 1. Thuận lợi - Cơ sở vật chất đầy đủ, khang trang. - Được sự quan tâm của Ban giám hiệu và phụ huynh học sinh. - Có thư viện với nhiều đầu sách và lịch cho học sinh mượn sách rõ ràng, có chỗ để học sinh có thể đọc sách vào giờ giải lao. 2. Khó khăn - Lớp tôi đang phụ trách là lớp học 1 buổi nên thời gian học ở trường ít hơn so với lớp 2 buổi. - Đa số các em đều là con em gia đình lao động nghèo nên việc kèm cập các em học tập ở nhà của gia đình còn hạn chế. - Các em là trẻ em ở vùng nông thôn nên việc đọc sách báo vẫn còn ít. C/ NỘI DUNG I/ CÁC BIỆN PHÁP THỰC HIỆN 1/ Rèn học sinh thực hiện tốt khâu chuẩn bị bài mới - Do thời gian dành cho tiết tập làm văn trên lớp chỉ từ 35 đến 40 phút, vì thế các em cần phải có sự đầu tư từ trước, nếu không chuẩn bị bài thì việc học tập trên lớp của các em gặp nhiều khó khăn và kém hiệu quả. Tuy nhiên, việc phải chuẩn bị gì và chuẩn bị như thế nào còn phụ thuộc vào sự định hướng của giáo viên. Do đó, tôi thường định hướng cho các em chuẩn bị bài một cách rõ ràng, cụ thể. * Ví dụ Ở tiết 8 “Hãy tả ngôi trường thân yêu đã gắn bó với em nhiều năm qua”. Tôi cho các em xác định những yêu cầu trọng tâm của đề bài và gạch dưới những từ ngữ trọng tâm đó qua các câu hỏi như + Đề bài thuộc thể loại văn gì ? miêu tả + Đối tượng tả là gì ? ngôi trường thân yêu gắn bó với em Việc xác định trọng tâm của đề bài giúp các em tránh được sự lạc đề hoặc đi lan man xa yêu cầu trọng tâm. Mặt khác, tôi chú trọng khâu định hướng qua sát cho học sinh, trước khi quan sát các em phải trả lời được + Các em quan sát những gì ? + Quan sát theo thứ tự nào ? * Ví dụ 1 Tả một người bạn thân của em ở trường . Tôi gợi ý cho học sinh quan sát một bạn học sinh mà các em chọn tả Quan sát từ xa đến gần Từ xa thấy bạn ấy có hình dáng thế nào ? Cao hay thấp ? Mập hay ốm ? Đó chính là phần tả bao quát hình dáng của bạn đó. Đến gần, em thấy bạn ấy có điểm gì nổi bật khác với các bạn khác, ví dụ nước da, mái tóc, , mặt, mũi, miệng, dáng đi, giọng nói, ánh mắt, nụ cườiĐể giúp cho bài văn của các em sinh động hơn, có hồn hơn tôi còn nhắc nhở các em quan sát một cách tinh tế, tỉ mỉ để phát hiện những nét riêng biệt, nổi bật của đối tượng mình tả và tả bằng chính những cảm nhận đó một cách chân thật nhất. Ví dụ các em quan sát ánh mắt của bạn ấy ở những thời điểm khác nhau như trong học tập, lúc vui chơi hay khi tham gia các hoạt động sinh hoạt tập thể hoặc những lúc bạn thuộc bài, được điểm cao và được cô khen thì ánh mắt của bạn ấy thế nào ? và khi có ai đó gây lỗi với bạn như vô ý giẫm chân lên chân bạn thì ánh mắt biểu hiện của bạn ta sao? Khi bạn ấy phạm lỗi thì thái độ bạn ấy lúc nhận lỗi thế nào?... * Ví dụ 2 Tả một người thân của em trong gia đình. Nếu các em chọn tả ông hoặc bà của em, các em thấy ông bà là người gần gũi thương yêu chúng ta hàng ngày, vậy khi quan sát em thấy ánh mắt ông bà ra sao ? đôi mắt dịu hiền, ánh lên vẻ trìu mến. Cũng đôi mắt ấy, khi các em bị điểm kém vì không thuộc bài thì ánh mắt thế nào ánh mắt buồn bã, lo âu. Tôi còn dùng hệ thống câu hỏi để kích thích sự tưởng tượng khêu gợi óc tò mò, dựng lại hình ảnh sự vật mà các em quan sát trước, phát huy khả năng tư duy sáng tạo của các em. Từ đó, học sinh có hứng thú chuẩn bị bài đầy đủ và tỉ mỉ để lên lớp học tốt. + Động viên học sinh phải thuộc ghi nhớ vì đó là những kiến thức cô đọng nhất để hình thành kĩ năng thực hành. Mục ghi nhớ trọng tâm là dàn bài đại cương, các em sẽ dựa vào đây để lập dàn bài chi tiết. Qua dàn bài chi tiết, học sinh sẽ nói và viết văn tương đối thuận lợi, đi đúng yêu cầu trọng tâm và bố cục đầy đủ, rõ ràng. Vì tôi nhận thấy ở đa số các em chưa phân biệt được rõ ràng bố cục của bài văn, các em còn lơ mơ khi đi vào viết bài văn hoàn chỉnh mà chưa thật sự nắm chắc cách bố cục của thể loại văn mình đang học. Sự chuẩn bị bài đầy đủ, tỉ mỉ giúp các em học tập, làm văn hiệu quả hơn, viết đúng với yêu cầu của đề bài hơn. 2/ Hướng dẫn kĩ thuật viết văn cho học sinh a. Khắc phục viết sai ngữ pháp Ngay từ các lớp nhỏ, các em đã tự học “Khi nói và viết phải thành câu thì người nghe và người đọc mới hiểu được”. Vậy mà các em vẫn cứ viết sai ngữ pháp, câu què, cụt khi thì thiếu chũ ngữ hoặc vị ngữ thậm chí có khi thiếu cả hai thành phần chính. Bởi vậy, giáo viên thường khắc phục hiện tượng này trong tiết trả bài tập làm văn. Giáo viên đưa ra những câu văn học sinh viết còn sai lên bảng và hướng dẫn học sinh tìm cách sửa, điều chỉnh cho đúng. Bản thân thiết nghĩ khi giáo viên hướng dẫn cả lớp sửa, thường những em viết sai lại không biết mình viết sai, không biết câu văn mà giáo viên đưa ra đó là của mình. Vì thế, các em không có sự tập trung cao độ vào việc nhận thức được những lỗi sai và nắm cách sửa chữa, dẫn đến việc khắc phục viết sai ngữ pháp cho học sinh kém hiệu quả. Do vậy, tôi thường làm như sau Trước khi cho học sinh cả lớp sửa, tôi gặp riêng từng em có câu văn sai, hướng dẫn, chỉ bảo nhẹ nhàng, giúp các em hiểu và nắm được cách khắc phục nhược điểm của mình, đồng thời tôi động viên, nhắc nhở các em ghi nhớ để lần sau không mắc phải nữa. Và đến khi đưa ra cho cả lớp sửa, các em lại được học hỏi và rút kinh nghiệm thêm một lần nữa, lúc này những biện pháp đưa ra khắc phục, sửa chữa lại càng có sức thuyết phục đối với các em và làm cho các em có càng khắc ghi những lỗi đó mà không lập lại lần sau. * Ví dụ 1 Trên cành cây, trong vòm lá xanh. Những bông hoa trắng xóa điểm lác đác. - Tôi hỏi học sinh viết sai em hãy cho biết đâu là chủ ngữ, vị ngữ trong câu thứ nhất của em ? học sinh đó không trả lời được. - Hãy xác định chủ ngữ, vị ngữ câu thứ hai ? - Học sinh xác định Những bông hoa / trắng xóa điểm lác đác.. CN VN - Tôi chỉnh lại Những bông hoa trắng xóa / điểm lác đác . CN VN Tôi giảng giải “Những bông hoa trắng xóa” là cụm danh từ làm chủ ngữ trong câu. Vậy “Trên cành cây”, “trong vòm lá xanh” là thành phần gì trong câu? Có tên gọi là gì ? là thành phần phụ - là trạng ngữ chỉ nơi chốn Giữa thành phần chính CN-VN và thành phần phụ trang ngữ trong câu có sử dụng dấu chấm không ? không dùng dấu chấm câu - Em hãy sửa chữa lại câu trên cho đúng ngữ pháp Trên cành cây, trong vòm lá xanh, những bông hoa trắng xóa điểm lác đác. * Ví dụ 2 Trong tủ đồ chơi của em có rất nhiều đồ vật, trông cũng xinh xắn và dễ thương. - Tôi yêu cầu học sinh Em hãy xác định C-V trong câu thứ hai của em ? học sinh lúng túng. - Tôi gợi cho học sinh nhớ lại kiến thức cũ Chủ ngữ trả lời cho câu hỏi nào Ai ? Cái gì ? Con gì ? - Trong câu của em có phần trả lời cho câu hỏi đó không ? không có - Vị ngữ trả lời cho câu hỏi nào ? Làm gì ? là gì ? thế nào ? - Vậy trong câu này có vị ngữ không ? có - Đâu là vị ngữ ? trông cũng xinh xắn, dễ thương. - Vị ngữ này trả lời cho câu hỏi nào ? trả lời câu hỏi “thế nào?” - Vậy câu thứ hai của em thiếu bộ phận nào ? bộ phận chủ ngữ. - Hãy sửa lại cho đúng ngữ pháp - Học sinh tự sửa “Trong tủ đồ chơi của em có rất nhiều đồ vật. Cái nào cũng xinh xắn và dễ thương” - Tôi yêu cầu những em viết sai ngữ pháp về nhà ôn lại, học thuộc phần ghi nhớ về chủ ngữ - vị ngữ ở lớp Bốn, đến lớp trả bài cho tổ trưởng, tổ trưởng báo cáo lại cho tôi. Quan điểm của tôi ở phần này là không đợi đến khi học sinh viết sai rồi mới khắc phục sửa chữa, mà giáo viên cần giúp các em khắc phục tận gốc việc dẫn đến viết sai ngữ pháp của học sinh. Đó là phải thường xuyên tổ chức cho học sinh ôn tập, củng cố để “lấp chỗ hỏng” kiến thức cho các em. Bởi lẽ các em không nắm hoặc nắm không chắc những kiến thức, kĩ năng cơ bản về câu ở các lớp dưới dẫn đến việc các em viết sai ngữ pháp, không diễn đạt được một ý trọn vẹn. Vì thế, hằng ngày trong việc dạy tiếng Việt, tôi thường xuyên tổ chức cho học sinh lĩnh hộ kiến thức, kĩ năng của bài mới kết hợp với việc ôn luyện kiến thức, kĩ năng đã học một cách linh hoạt, sáng tạo. Thực tế chứng minh, chỉ khi học sinh nắm vững những kiến thức, kĩ năng đã học thì các em mới có điều kiện thuận lợi để tiếp thu bài mới được dễ dàng và hiệu quả. Bởi vậy, ở bất kì phân môn nào của môn Tiếng Việt hay bất kì tiết học nào có vận dụng kiến thức cũ và liên quan đến kĩ năng viết của học sinh, tôi cũng có thể cho các em ôn luyện lại những kiến thức mà các em đã học từ các lớp dưới. * Ví dụ Bài “Mở rộng vốn từ Tổ quốc”. Luyện từ và câu Bài tập 4 Đặt câu với một trong những từ ngữ dưới đây Quê hương . Quê mẹ. Quê cha đất tổ. Nơi chôn nhau cắt rốn. Trước khi cho học sinh thực hành đặt câu, tôi cho học sinh ôn lại kiến thức về “Hai thành phần chính của câu” Ở lớp 2. - Dạy bài “Câu ghép”, cho học sinh ôn “Chủ ngữ, vị ngữ” Ở lớp 4. - Dạy bài “Ôn tập về tả đồ vật” Tập làm văn. Trước khi cho học sinh lập dàn ý miêu tả một đồ vật cụ thể trong yêu cầu của bài, tôi cho học sinh ôn lại dàn bài chung của kiểu bài miêu tả đồ vật ở lớp 4. - Bài “Ôn tập về từ và cấu tạo từ” Luyện từ và câu, cho học sinh ôn về từ đơn, từ ghép Lớp 4. - Bài “Bà cụ bán hàng nước chè” Chính tả Ôn về cách viết và trình bày một đoạn văn miêu tả Cây cối cây bàng, tả người bà cụ. b. Rèn kĩ năng viết văn hay + Trong suốt quá trình dạy tập làm văn cho học sinh, bên cạnh việc hướng dẫn, nhắc nhở học sinh khi đặt câu phải có đủ hai bộ phận chính đó là chủ ngữ và vị ngữ, tôi còn luôn động viên, khuyến khích các em cần thêm những thành phần phụ như trạng ngữ, bổ ngữ, định ngữĐể câu văn tránh được sự khô khan, cứng nhắc và trở nên mượt mà, sinh động hơn, dễ đi vào lòng người hơn. Tôi còn chú tâm đến việc tạo cho học sinh một bầu không khí học tập vui tươi, tích cực và sáng tạo thông qua các hình thức Thi đua, trò chơi, làm bài tập trắc nghiệm Nhằm kích thích học sinh hứng thú, ham thích học phân môn Tập làm văn. + Việc rèn cho học sinh biết viết những câu văn hay để hình thành những đoạn văn, bài văn sinh động, giàu hình ảnh không phải một sớm một chiều mà có được. Đó là cả một quá trình lâu dài, bền bỉ, đòi hỏi học sinh phải kiên trì, tích lũy vốn từ phong phú, hiểu nghĩa từ, nắm chắc về từ loại, từ gần nghĩa, cùng nghĩa, từ trái nghĩakết hợp với việc nắm vững từng thể loại văn cũng như việc lựa chọn từ ngữ phù hợp với văn cảnh để đặt câu có hình ảnh. Biết sử dụng những biện pháp tu từ, so sánh, nhân hóa giúp cho người đọc dễ dàng cảm nhận được ý tưởng, tâm tư tình cảm của mình gửi gắm trong lời văn, ý văn. Vì thế, để góp phần giúp học sinh viết được những câu văn hay, tôi cho học sinh học tập so sánh bài làm của mình với bài làm của bạn, phát hiện những câu văn hay để học tập và ghi vào sổ tay văn học của mình. * Ví dụ 1. Trước tầm nhìn của em, cánh đồng trải dài mênh mông với một màu xanh ngút ngàn vẫn đang im lìm như còn tận hưởng giấc ngủ thanh bình của buổi sớm. Tả cánh đồng lúa chín - Huỳnh Thái. 2. Đầu gà to bằng nắm tay, khô khằn như chỉ có da bọc xương. Trên đỉnh đầu nhô lên một cái mào to hình răng cưa sần sùi, đỏ thắm như bông hoa mào gà. Đôi mắt đo đỏ, lừ đừ, lộ vẻ dữ tợn. Mỏ gà to bằng ngón tay út của em và có màu vàng nhạt. Cái cổ thon dài rất linh hoạt, lúc nào cũng lắc lư, ngẩng lên, hạ xuống như một cánh tay lực lưỡng, hiếu động. Tả con vật em yêu thích “Con gà trống” – Lý Kim Vinh 3. Nhánh sông Sài Gòn chảy qua lưu vực chợ Bình Dương, mọi người ở đây vẫn quen gọi là sông Bạch Đằng. Dòng sông hiền hòa uốn lượn sau chợ Thủ Dầu Một trông như một dải lụa đào mềm mại. Tả dòng sông - Trần Đình Duy 4. Mỗi búp huệ nhìn từ xa như những hạt ngọc thon thon, xinh xinh bằng đầu ngón tay út của thiếu nữ. Trên mỗi cành huệ có búp xoè nở, búp thì he hé mỉm cười còn những búp ở ngọn thì vẫn ôm sát vào nhau đợi chờ. Tả một loài hoa mà em yêu thích – Lâm Gia Nghi + Trong việc tổ chức hướng dẫn học sinh học tập làm văn, ở bất kì thể loại nào, tôi cũng tạo điều kiện cho học sinh được bộc lộ và phát huy vốn văn chương của mình. Các em có dịp phát triển năng lực diễn đạt, khả năng tư duy sáng tạo và trí thông minh qua nhiều hình thức thi đua với các bạn trong nhóm cũng như trong toàn lớp học. Cụ thể tôi thực hiện như sau Tôi đưa ra những câu văn bình thường có đủ hai bộ phận chính Chủ ngữ và vị ngữ rồi yêu cầu các em tự suy nghĩ, cùng thi đua bổ sung thêm những từ ngữ, hình ảnh, sau đó tôi giúp các em điều chỉnh để có những câu văn hay giàu hình ảnh và hấp dẫn hơn. * Ví dụ 1 Kiểu bài tả cảnh. a Trên cành cây chim hót. Học sinh - Trên cành cây chim hót líu lo. - Trên cành cây, những chú chim non cất tiếng hót líu lo. - Trên cành cây, những chú chim cất tiếng hót líu lo như chào đón chúng em đến trường. - Trên cành cây, chim hót líu lo như đón chào một ngày mới. b Tiếng gà gáy đánh thức mọi người dậy. Học sinh - Sáng sớm, tiếng gà gáy đánh thức mọi người dậy. - Mỗi buổi sáng, tiếng gà gáy đánh thức mọi người dậy đi làm. - Hôm nào cũng vậy, tiếng gà gáy lanh lảnh như chiếc đồng hồ đánh thức mọi người dậy đi làm. - Hôm nào cũng thế, tiếng gà gáy dõng dạc như chiếc đồng hồ đánh thức mọi người dậy chuẩn bị một ngày mới. - .. * Ví dụ 2 Kiểu bài tả người . a Ông em già rồi nhưng vẫn khoẻ. Học sinh - Ông em già rồi nhưng vẫn khoẻ vì ông thường xuyên tập thể dục. - Ông em già rồi nhưng vẫn còn khoẻ nên hàng ngày ông vẫn chăm vườn, nhổ cỏ, tưới cây. b Bé Lan đang tập đi. Học sinh - Bé Lan đang chập chững tập đi. - Ngoài sân, bé Lan đang chập chững tập đi. - Ngoài kia, bé Lan đang chập chững tập đi trông dễ thương quá! - Ô kìa ! Bé Lan đang lẫm chẫm bước đi trông thật đáng yêu Ở hình thức thi đua này, học sinh đã được học tập trong một môi trường rất tích cực. Tâm lý các em rất thích được khen và nhất là khen trước tập thể lớp. Em nào cũng muốn được cô và các bạn biết đến câu văn của mình. Em nào cũng muốn thể hiện tài năng của mình trước sự chứng kiến của cả lớp. Vì thế, các em đã đem hết khả năng và vốn từ ngữ ra thi thố với các bạn. Từ đó các em không chỉ phát triển được khả năng tư duy ngôn ngữ, trí thông minh và óc sáng tạo mà càc em còn được rèn luyện về kĩ năng dùng từ đặt câu, biết lựa chọn và sử dụng những hình ảnh, biện pháp so sánh, nhân hóa để đạt được những câu văn sinh động hấp dẫn. c. Rèn luyện và phát huy khả năng tự học, tự bồi dưỡng văn cho học sinh - Theo định hướng đổi mới việc dạy và học hiện nay là Học sinh tự học, tự nghiên cứu để chiếm lĩnh kiến thức mới dưới sự tổ chức, dẫn dắt của giáo viên. Do vậy, trước những yêu cầu đổi mới giáo dục, trước sự phát triển của đất nước ta hiện nay thì việc rèn luyện và phát huy khả năng tự học, tự nghiên cứu để tự mình chiếm lĩnh kiến thức cho học sinh là một việc làm hết sức cần thiết. Hơn nữa, thời gian các em học tập dưới sự hướng dẫn trực tiếp của thầy cô trên lớp rất là ít ỏi so với thời gian các em ở bên gia đình. Do đó, việc trang bị cho các em năng lực tự học là một việc làm phù hợp với su thế đổi mới của phương pháp dạy học hiện đại. Trong việc tổ chức học tập trên lớp, tôi luôn khuyến khích các em tự chiếm lĩnh nội dung bài thông qua những hình thức thi đua cá nhân, tập thể, nhóm góp phần phát huy năng lực tự học của các em. Tôi luôn nhắc nhở, động viên các em cần phải rèn luyện thói quen tự học tự nghiên cứu, đọc sách báo kể cả những lúc ở nhà không có sự hướng dẫn trực tiếp của thầy cô. Đặc biệt trong dạy Tập làm văn, để rèn luyện và phát huy khả năng tự học của học sinh, tôi đã đưa ra qui định chung cho cả lớp đó là Khi làm văn không được văn mẫu, những bài văn có sẵn trong sách tham khảo Tuy nhiên, các em có quyền tham khảo để học cách làm văn, cách dùng từ ngữ, hình ảnh sinh động nhưng học thuộc để chép lại và nộp giấy cho thầy cô chấm điểm thì nhất định là không được. Thực tế hiện nay cho thấy, học sinh thường học thuộc văn mẫu để làm bài kiểm tra hoặc làm bài thi. Khi chấm bài, giáo viên thấy các bài văn hao hao giống nhau. Đó là một thực tế đáng buồn. Như vậy các em không phát triển được vốn từ ngữ, khả năng diễn đạt, óc sáng tạo của chính mình mà chỉ lệ thuộc máy móc vào văn mẫu. Để khắc phục tình trạng này, ở từng thể loại, tôi yêu cầu học sinh phải học thuộc dàn bài chung, từ đó vận dụng vào từng đề bài cụ thể để xây dựng hình thành một dàn bài chi tiết theo cách hành văn của từng em. Tôi giúp các em điều chỉnh dàn bài chi tiết cho hoàn chỉnh rồi từ dàn bài chi tiết đó, các em viết thành bài văn của mình. Tôi rất nghiêm khắc ở vấn đề này, nếu thấy bài văn của học sinh nào làm mà không phải là lời văn của các em, tôi yêu cầu học sinh đó về làm lại bài theo đúng khả năng, trình độ của mình. Bởi tôi nắm rất rõ khả năng viết văn của từng học sinh trong lớp. Do vậy, chỉ cần đọc là biết ngay bài văn hoặc đạon văn đó có phải của học sinh đó hay không. Tóm lại, ở biện pháp này, tôi đã giúp các em tự mình nghiên cứu tìm tòi và vận dụng để bộc lộ khả năng viết văn, khả năng diễn đạt, dùng từ ngữ, hình ảnh của mình. Từ đó tôi sẽ giúp các em uốn nắn để có những đoạn văn, bài văn hoàn chỉnh. Như vậy, việc nghiêm khắc với học sinh trong vấn đề chép văn mẫu cũng như việc hướng dẫn cho học sinh dựa vào dàn bài chung để viết văn bằng trình độ, khả năng của mình không chỉ tạo điều kiện để các em bộc lộ khả năng diễn đạt, phát triển vốn từ, cách lựa chọn hình ảnh phù hợp mà còn tạo điều kiện để các em được rèn luyện và phát huy khả năng tự học của mình. II/ KẾT QUẢ Qua việc vận dụng những biện pháp trên vào thực tế dạy học tập làm văn ở lớp tôi đã đem lại kết quả rất khả quan. 1. Về học sinh - Hầu hết học sinh đều ham thích và hứng thú học tập phân môn này, các em không còn có biểu hiện ngại học mỗi khi nhắc đến nó. - Học sinh học tập trong không khí tự nhiên thoải mái, tích cực và hào hứng nhất là vào tiết làm bài miệng, ngoài việc các em nêu lên ý kiến diễn đạt của mình mà các em còn nhận xét được ý vừa nêu của bạn theo nhận thức của em một cách chân thật nhất. - Các em có điều kiện để bộc lộ những khả năng tư duy, hiểu biết, khả năng diễn đạt, phát triển vốn từ, trí thông minh và óc sáng tạo mà ở một số em yếu cũng đã nhận thức được để thực hiện bài văn thì ta phải thực hiện như thế nào đúng nhất về phần cấu tạo của thể loại văn đó mặc dù ý diễn đạt của em yếu vẫn còn hạn chế theo mức đọ của em. - Trong văn nói các em mạnh dạn hơn, diễn đạt lưu loát đầy đủ ý. Trong văn viết các em tiến bộ rõ rệt so với đầu năm học, khắc phục được nhược điểm về đặt câu, đồng thời biết lựa chọn từ ngữ, hình ảnh phù hợp để đặt câu, làm cho câu văn, đoạn văn và bài văn thêm sinh động. - Kết quả học tập của học sinh ở phân môn Tập làm văn qua các kì kiểm tra được nâng lên một cách rõ rệt. Cụ thể Tổng số học sinh lớp 5/2 24/17 Loại Giỏi Khá TB Yếu Đầu năm 3/2 12,5% 8/6 33,3% 8/7 33,3% 4/2 16,6% GKI 6/4 25% 8/5 33,3% 9/7 37,5% 3/1 12,5% HKI 8/7 33,3% 9/8 37,5% 6/1 25% 1/1 2,4% GKII 9/7 37,5% 10/9 41,6% 5/1 20,8% 0 2. Về giáo viên - Sau mỗi tiết dạy tập làm văn, tôi cảm thấy lòng mình thanh thản và tự tin khi học sinh học tập tích cực chủ động, sáng tạo, ngày càng tiến bộ. - Bản thân không còn cảm thấy ái ngại và khó khăn mỗi khi dạy phân môn tập làm văn. - Việc dạy tốt phân môn này là động lực để tôi dạy tốt những môn học khác. III/ BÀI HỌC KINH NGHIỆM - Để thực hiện những biện pháp như trên, giáo viên cần phải chú trọng phần chuẩn bị cho bài mới. Chuẩn bị tốt sẽ dạy tốt và học tốt, đặc biệt, khâu học sinh chuẩn bị ở nhà, giáo viên cần định hướng một cách cụ thể, rõ ràng và khoa học thì việc chuẩn bị của học sinh mới có kết quả tốt. - Trong việc tổ chức cho học sinh hoạt động học tập, giáo viên thường xuyên kiểm tra, phát hiện ra những chỗ “hỏng” kiến thức của học sinh để kịp thời giúp các em bổ sung cho đầy đủ. Nhất là phải thường xuyên cho học sinh
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐỀ TÀI “RÈN KĨ NĂNG VIẾT BÀI VĂN TẢ CẢNH CHO HỌC SINH LỚP 5” 1 LỜI CẢM ƠN Sáng kiến kinh nghiệm Rèn kĩ năng viết văn tả cảnh cho học sinh lớp 5” mà tôi nghiên cứu đến nay đã hoàn thành. Có được kết quả này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Phòng Giáo dục Đào tạo huyện Phù Cừ đã tạo điều kiện để tôi nghiên cứu và thực hiện. Qua đây tôi xin chân thành cảm ơn tới Ban giám hiệu Trường Tiểu học Minh Tân, giáo viên tổ 4, 5, cô giáo Lê Phương Nga, các bạn học lớp K4 ĐHSP, đã hỗ trợ, giúp tôi thu thập tài liệu, lựa chọn phương pháp làm cơ sở cho việc nghiên cứu. Cũng trong dịp này, tôi xin cảm ơn các em học sinh khối 5 Trường Tiểu học Minh Tân khóa học 2012 – 2013 và khóa học 2013 – 2014 đã ủng hộ, giúp đỡ để tôi hoàn thành nghiên cứu này. Trong quá trình nghiên cứu, do thời gian có hạn và cách nhìn của bản thân không tránh khỏi phiến diện, sai sót. Vậy tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các chuyên viên Phòng giáo dục, Ban giám hiệu trường và các bạn đồng nghiệp để sáng kiến kinh nghiệm của tôi có tính khả thi cao, góp phần vào việc nâng cao chất lượng học viết văn nói riêng và học tập nói chung. Tôi xin chân thành cảm ơn! Minh Tân ngày, 10 tháng 3 năm 2014 2 Người viết Hoàng Thị Thúy Vinh 3 A. PHẦN MỞ ĐẦU I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1. Cơ sở lí luận Trong chương trình tiểu học, cùng với môn toán môn Tiếng Việt chiếm khá nhiều thời gian so với các môn học khác. Môn Tiếng việt có nhiệm vụ hình thành và phát triển cho học sinh các kĩ năng sử dụng tiếng việt để học tập và giao tiếp trong các môi trường của lứa qua việc dạy học Tiếng việt, góp phần rèn luyện tư duy, cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về xã hội, tự nhiên và con người, về văn hóa, văn học của Việt Nam và nước ngoài. Bồi dưỡng tình yêu Tiếng việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của Tiếng Việt, góp phần hình thành con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Môn Tiếng việt gồm nhiều phân môn khác nhau như tập đọc, luyện từ và câu, kể chuyện, tập viết, chính tả, tập làm văn. Song khó hơn cả đối với người dạy cũng như đối với người học là phân môn Tập làm văn. Tập làm văn là một phân môn rất quan trọng trong chương trình dạy học tiểu học, nó không chỉ giúp học sinh hình thành các kĩ năng Nghe, nói, đọc, viết mà còn rèn cho học sinh khả năng giao tiếp, quan sát, phân tích tổng hợp và đặc biệt còn hình thành cho học sinh những phẩm chất tốt đẹp của con người mới hiện đại và năng động. Dạy tập làm văn là dạy học sinh cách nhìn nhận cuộc sống xung quanh trong thực tế vốn có của nó với cảm xúc thực của các em. Đồng thời cũng dạycác em cách ghi lại sự nhìn nhận ấy qua 4 các văn bản- còn gọi là đoạn văn, bài văn một cách chính xác về đối tượng, về ngữ pháp Tiếng việt. Tập làm văn lớp 5 gồm nhiều nội dung, một trong những nội dung chính của chương trình tập làm văn 5 là văn miêu tả. Tả cảnh là một kiểu bài khó vì học sinh không có khả năng quan sát tinh tế, mặt khác có những cảnh học sinh chỉ có thể gặp một lần khi đi du lịch hay xem trên truyền hình, không cảm nhận được vẻ đẹp của cảnh hay những thay đổi của cảnh, không biết dựa vào cảm xúc của mình để làm cảnh đó trở nên đẹp hơn, sinh động hơn, gần gũi hơn. Làm thế nào để cho học sinh làm văn hay và có hiệu quả thì lại là một vấn đề rất khó khăn, cần phải suy nghĩ và dày công nghiên cứu của những người làm công tác giáo dục. 2. Cơ sở thực tiễn Là một giáo viên đã trải qua nhiều năm giảng dạy chương trình lớp 4, 5 tôi nhận thấy thể loại văn tả cảnh trong phân môn Tập làm văn ở lớp 5 là thể loại văn dùng lời nói có hình ảnh và cảm xúc làm cho người nghe, người đọc hình dung một cách rõ nét, cụ thể về người, vật, cảnh vật, sự việc như nó vốn có trong đời sống. Một bài văn miêu tả hay không những phải thể hiện rõ nét, chính xác, sinh động đối tượng miêu tả mà còn thể hiện được trí tưởng tượng, cảm xúc và đánh giá của người viết đối với đối tượng được miêu tả. Thực tế giảng dạy tập làm văn phần tả cảnh, bản thân người giáo viên là người hướng dẫn đôi khi cũng cảm thấy lúng túng, bí từ và không biết phải hướng dẫn thế nào để học sinh có thể viết được bài văn hay, có hình ảnh có cảm xúc. Một số tài liệu như sách giáo khoa, sách giáo viên, sách thiết kế thì hướng dẫn chung chung, còn một số sách khác như văn mẫu lại chỉ có các bài văn đã viết sẵn và thực tế mẫu nhưng không phải là chuẩn 5 mực, có chăng chỉ là đôi chỗ có câu, ý hay,… mà lại không có một sự hướng dẫn cụ thể nào để định hướng cho giáo viên cũng như học sinh. Là một giáo viên tiểu học tôi luôn trăn trở suy nghĩ để làm thế nào cho học sinh thích làm văn, viết văn chân thật, có cảm xúc và sinh động. Trong năm học 2011 – 2012, 20122013, tôi đã dạy và tìm hiểu khá kĩ về mảng Tập làm văn, đặc biệt là văn tả cảnh lớp 5. Tôi đã áp dụng một số phương pháp và thấy có những kết quả đáng mừng. Kinh nghiệm này được áp dụng và đã mang lại hiệu quả nhất định trong dạy Tập làm văn. Năm học 2013- 2014, tôi mạnh dạn đề xuất một vài biện pháp nhỏ “ Rèn kĩ năng viết bài văn tả cảnh cho học sinh lớp 5”, để nghiên cứu với hi vọng gúp phần nâng cao trình độ của bản thân và nâng cao chất lượng dạy - học văn tả cảnh lớp 5 nói riêng và nâng cao chất lượng dạy học nói chung. Qua đây, tôi mong muốn nhận được nhiều ý kiến trao đổi của đồng nghiệp để đề tài thực sự có giá trị trong quá trình dạy học. II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 1. Giúp học sinh lớp 5 - Hiểu được đặc điểm của thể loại văn tả cảnh, trọng tâm miêu tả của từng bài. - Biết những ưu điểm và hạn chế của mình trong viết văn và có biện pháp tốt cho việc học viết văn của mình. - Rèn kĩ năng quan sát, tìm ý, lập dàn ý, biết sử dụng sơ đồ tư duy để lập dàn ý, viết bài. - Rèn kĩ năng dùng từ, đặt câu, viết đoạn, liên kết đoạn, diễn đạt lưu loát, mạch lạc. - Rèn kĩ năng viết các đoạn văn, bài văn giàu hình ảnh, cảm xúc. - Bồi dưỡng tình cảm yêu mến, gắn bó, biết trân trọng những cảnh vật xung quanh các em. 6 - Có cách nhìn sự vật theo hướng tích cực, ham thích quan sát, tìm tòi khám phá. - Có tiền đề tốt để học viết văn miêu tả ở các lớp sau… 2. Giúp giáo viên - Nhìn nhận lại sâu sắc hơn việc dạy văn tả cảnh cho học sinh lớp 5 để vận dụng phương pháp, biện pháp và hình thức tổ chức dạy học một cách linh hoạt. - Tự tìm tòi, nâng cao tay nghề, đúc rút kinh nghiệm trong giảng dạy TLV nói chung và trong dạy học sinh viết văn tả cảnh nói riêng. - Nâng cao khả năng nghiên cứu khoa học. III, KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 1. Khách thể nghiên cứu - Học sinh lớp 5 trường Tiểu học Minh Tân. 2. Đối tượng nghiên cứu - Thể loại văn tả cảnh lớp 5, một số kinh nghiệm rèn viết văn tả cảnh. IV. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 1. Tìm hiểu mục tiêu, nội dung dạy- học văn tả cảnh lớp 5. 2. Thực trạng dạy- học văn tả cảnh ở lớp 5. 3. Một số biện pháp dạy- học văn tả cảnh lớp 5. V. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Phương pháp nghiên cứu lí luận - Đọc tài liệu liên quan đến đề tài - Nghiên cứu nội dung chương trình TLV 5, mạch kiến thức Dạy viết văn tả cảnh. 7 2. Phương pháp quan sát sư phạm - Điều tra thực trạng qua từng giai đoạn trong suốt năm học, trao đổi với giáo viên và học sinh, tìm hiểu thực tế việc dạy- học phân môn TLV trong trường Tiểu học. - So sánh đối chứng trong cùng một giai đoạn giữa lớp này với lớp kia, giữa các giai đoạn với nhau trong cùng một lớp, đối chứng cả với những năm học trước. - Quan sát tinh thần, thái độ, ý thức học TLV của học sinh lớp dạy thực nghiệm và học sinh lớp khác trong khi đi dự giờ, quan sát phương pháp sư phạm của giáo viên giảng dạy, quan sát chất lượng bài viết của học sinh ở từng dạng miêu tả khác nhau để tìm hiểu những tác nhân trực tiếp ảnh hưởng đến chất lượng viết văn miêu tả của học sinh. 3. Ứng dụng sơ đồ tư duy Sử dụng sơ đồ tư duy trong một số phần để hướng dẫn học sinh quan sát, viết mở bài, lập dàn ý cho bài văn tả cảnh. 4. Phương pháp tổng kết kinh nghiệm - Tiến hành đồng thời với phương pháp kiểm tra toán học và phương pháp tổng hợp số liệu thống kê. Khi kiểm tra đánh giá chất lượng bài văn miêu tả của từng học sinh, tôi mô tả và thống kê chất lượng ấy bằng những số liệu cụ thể, sau đó tổng hợp các số liệu đã thu được nhằm rút ra kinh nghiệm giảng dạy cho bản thân. VI. PHẠM VI, GIỚI HẠN NGHIÊN CỨU - Các tiết Tập làm văn về bài văn tả cảnh ở lớp 5. - Thực trạng dạy – học văn tả cảnh của giáo viên, học sinh lớp 5 trường Tiểu học Minh Tân nơi tôi công tác trong thời gian qua, đặc biệt là học sinh lớp 5B năm học 2012 -2013. 8 VII. THỜI GIAN HOÀN THÀNH Việc nghiên cứu tìm ra một số biện pháp giúp học sinh lớp 5 Rèn kĩ năng viết bài văn tả cảnh cho học sinh lớp 5’’được hoàn thành vào cuối học kì I năm học 2012 – 2013 và một số nội dung liên quan tới tháng 2 năm 2014. 9 B. NỘI DUNG CHƯƠNG I. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG I. CƠ SỞ LÍ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN DẠY HỌC VĂN TẢ CẢNH Văn tả cảnh là loại văn dùng lời với những hình ảnh, cảm xúc làm cho người đọc, người nghe có thể hình dung được rõ nét và cụ thể về một cảnh vật nào đó xung quanh ta. Như vậy văn tả cảnh có thể xem là một văn bản nghệ thuật có sử dụng ngôn ngữ văn chương để miêu tả sự vật hiện tượng một cách cụ thể sinh động. Bất kì hiện tượng nào trong thực tế đời sống cũng có thể miêu tả được, tuy nhiên bằng những cảm xúc khác nhau của mỗi người, mỗi hiện tượng lại được lại được miêu tả với cách thể hiện riêng qua việc quan sát, sử dụng từ ngữ và cách diễn đạt khác nhau. Đối tượng của bài văn tả cảnh là những cảnh vật quen thuộc xung quanh ta như dòng sông, cánh đồng, hàng cây...Khi viết bài văn tả cảnh cần đặc biệt tập trung vào những nét tiêu biểu của cảnh vật đó. Để bài văn được sinh động và hấp dẫn hơn với người đọc ta có thể lồng vào đó việc tả người, tả vật với những cung bậc cảm xúc khác nhau. Ngôn ngữ trong văn miêu tả cần chính xác, cụ thể, giàu hình ảnh và có nét riêng biệt. Chính vì thể để có bài văn hay đòi hỏi người viết phải có hiểu biết về phương pháp làm văn, phải biết dùng từ ngữ, biết vận dụng linh hoạt các biện pháp nghệ thuật tu từ được học. II. TÌNH HÌNH THỰC TẾ DẠY VÀ HỌC. 1. Sách giáo khoa. 10 Hiện nay theo phân phối chương trình trong sách giáo khoa có 19 tiết tả cảnh, trong đó có 13 tiết lý thuyết kết hợp thực hành, còn lại là kiểm tra và trả bài. Nội dung tả cảnh tập trung vào các cảnh Một buổi trong ngày, một hiện tượng thiên nhiên, trường học, cảnh sông nước. Với các nội dung trên, yêu cầu viết lại chủ yếu là đoạn văn. Do đó, với mỗi cảnh học sinh ít được viết hoàn thiện một bài văn hoàn chỉnh ngay trên lớp để thầy cô và bạn bè trực tiếp góp ý. 2. Người học về phía học sinh - Học sinh chưa biết bộc lộ cảm xúc và sử dụng các biện pháp nghệ thuật khi tả cảnh khiến bài viết thiếu hình ảnh, khô khan,… Học sinh chưa có hứng thú viết văn đặc biệt là văn miêu tả. - Học sinh không có thói quen sử dụng các biện pháp so sánh, nhân hóa khi viết văn - Khi làm văn, học sinh miêu tả hời hợt, chung chung, vốn từ còn nghèo nàn, bài văn trở thành một bảng liệt kê các đối tượng miêu tả, không làm nổi bật được cảnh đang tả. - Bài văn học sinh làm thường vay mượn ý tình của người khác, các em thường sao chép những bài văn mẫu thành bài văn của mình không kể đầu bài quy định như thế nào. Với cách làm ấy các em không cần biết đối tượng cần miêu tả gì, không chú ý tới đặc điểm nổi bật tạo nên nét riêng của cảnh, cũng như không có cảm xúc về nó. - Học sinh chưa có ý thức quan sát đối tượng miêu tả và ghi chép những điều quan sát được một cách cụ thể và chi tiết chính vì vậy mà các em còn lơ mơ về đối tượng miêu tả nên tả còn nhiều chi tiết khập khiễng, lủng củng không gắn kết với nhau. - Học sinh tiểu học vốn sống, vốn kiến thức và những rung cảm trước cái đẹp còn hạn chế nên chưa thổi được vào cảnh cái hồn để cảnh miêu tả trở nên sinh động, ấn tượng 11 hơn. - Học sinh chưa có phương pháp làm văn cụ thể, việc tiếp thu kiến thức làm văn đến vận dụng kiến thức đó chưa chủ động và linh hoạt. - Kĩ năng vận dụng các từ ngữ gợi hình, gợi tả và các biện pháp nghệ thuật tu từ còn lúng túng. b. Người dạy - Giáo viên chỉ có một con đường duy nhất là hình thành các hiểu biết về lí thuyết, thể loại văn, kĩ năng làm văn... Đó là qua phân tích các bài văn mẫu với lý thuyết khô khan, khó hiểu. - Giáo viên chưa chủ động, sáng tạo trong dạy học, chưa gây hứng thú cho học sinh khi học văn, chưa có những câu văn chân thực, gần gũi,… Đặc biệt, khi học sinh đưa ra một câu văn dùng từ chưa chuẩn hay thiếu hình ảnh, chưa hợp lí, … chưa chỉnh sửa kịp thời và không làm bật được cái hạn chế và thay thế ngay câu văn có nghĩa, đúng ngữ pháp, giàu hình ảnh để học sinh có thể mê’’ thì chưa thể thổi hồn, làm cầu nối nâng tình yêu văn học cho các em. - Một số giáo viên còn mắc bệnh thành tích trong dạy học. Để đối phó với việc học sinh làm kém và đảm bảo “chất lượng” khi kiểm tra, thi cử... nhiều cô giáo, thầy giáo cho học sinh học thuộc làm sẵn một số bài văn mẫu để các em khi gặp đầu bài tương tự cứ thế mà chép ra làm cho các em lệ thuộc vào bài mẫu, không có sáng tạo trong làm bài. - Ra đề bài chưa thích hợp với học sinh theo từng vùng miền, địa phương. Khiến học sinh vô cùng lúng túng khi miêu tả. 12 Ví dụ Đề bài yêu cầu tả cảnh biển lúc bình minh, thực tế học sinh chưa được nhìn thấy hay được quan sát biển bao giờ. - Giáo viên không thực hiện đúng các yêu cầu khi trả bài viết của học sinh, không giúp các em nhận thấy được những lỗi sai của mình khi làm bài để có sự chỉnh sửa rút kinh nghiệm cho bài làm sau. Đây không phải là vấn đề có thể giải quyết được trong một tiết, một tuần, … mà là cả một quá trình dạy Tập làm văn bởi dạng văn tả cảnh là sự kết hợp của nhiều thể loại văn các em đã học và còn cần có cách nhìn, cách nghĩ, cách sáng tạo mới. - Chính vì một số nguyên nhân trên tôi đã khảo sát chất lượng làm văn của học sinh hai lớp 5. lớp 5A đối chứng và lớp 5B thực nghiệm để làm cơ sở kiểm chứng thực nghiệm sau này. - Đề bài Em hãy tả một cảnh thiên nhiên đẹp ở địa phương. - Kết quả thu được như sau Tổng Giỏi Lớp số HS Khá Trung bình Yếu SL TL% SL TL% SL TL% SL TL % 5A 29 2 6,8 7 24,3 15 51,7 5 17,2 5B 28 2 7 6 20,7 15 52,6 6 20,7 13 Từ kết quả trên tôi thấy chất lượng học sinh hai lớp là tương đương bởi tỉ lệ học sinh giỏi, khá, trung bình, yếu luôn ngang nhau, tôi quyết định lựa chọn một số giải pháp để ứng dụng, thực nghiệm mong muốn có kết quả tốt để cải tiến cách dạy, cách học cho cá nhân và học sinh và có thể là giải pháp cho đồng nghiệp. III. NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN GIẢI QUYẾT. Đứng trước thực trạng dạy và học như trên yêu cầu đặt ra cấp thiết là phải đổi mới phương pháp dạy học để học sinh đến với phân môn Tập làm văn thể loại miêu tả cảnh một cách say mê, hứng thú để từ đó có cảm xúc viết văn. Để đạt được mục tiêu trên thì cần phải tiến hành giải quyết các vấn đề chính sau Cung cấp cho học sinh phương pháp làm văn miêu tả nói chung và tả cảnh nói riêng. Hướng dẫn học sinh một số thủ pháp làm văn tả cảnh. Xây dựng một số bài tập bổ trợ rèn kĩ năng sử dụng từ ngữ và các biện pháp nghệ thuật tu từ. Cung cấp, khuyến khích học sinh tích lũy vốn từ ngữ khi học, đọc, viết các bài văn, thơ về tả cảnh. Cung cấp vốn sống, vốn hiểu biết về cảnh. Các vấn đề được nêu ở trên cần được giải quyết đồng thời, xen lẫn vào nhau một cách nhịp nhàng và linh động thì hiệu quả sẽ cao hơn rất nhiều. CHƯƠNG II. PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH. 14 Từ kinh nghiệm dạy học của mình, tôi xin đưa ra một số biện pháp để giải quyết các vấn đề được nêu ở trên giúp học sinh làm tốt bài văn tả cảnh như sau 1. Cung cấp cho học sinh phương pháp làm văn miêu tả nói chung và tả cảnh nói riêng. Việc cung cấp cho học sinh phương pháp làm văn miêu tả nói chung và tả cảnh nói riêng giúp học sinh có con đường đi đến bài văn đúng hướng, không bị sai lệch về cả nội dung và hình thức. - Học sinh cần nắm được 4 yêu cầu khi làm văn miêu tả + Cụ thể hóa sự vật tả cái gì? Ví dụ Tả cánh đồng thì tập trung tả cánh đồng, không miên man tả sâu cảnh xóm làng nằm bên cạnh cánh đồng, hay cảnh trời mây vào thời điểm đó cho dù các sự vật đó cũng có liên quan. + Cá thể hóa sự vật tả như thế nào? Tả cảnh nào thì người đọc hình dung cảnh đó chứ không bị lẫn lộn với cảnh khác. Ví dụ Tả cảnh cánh đồng thì phải tả chủ yếu những yếu tố liên quan không thể tách rời như Lúa, ngô, rau màu, thửa ruộng, bờ mương, đàn trâu, con người lao động, .. + Mục đích hóa sự vật tả với mục đích gì ? Ví dụ Tả cánh đồng với mục đích đó là tả lại một cảnh đẹp rất đáng tự hào của người dân quê hương, ích lợi mà cánh đồng mang lại…. + Cảm xúc hóa sự vật tả với tư tưởng, tình cảm, thái độ ra sao? Ví dụ Tả cánh đồng với niềm tự hào, với sự ngưỡng mộ về một vẻ đẹp nên thơ... 15 - Cung cấp cho học sinh các bước làm văn miêu tả. + Bước 1 Tìm hiểu đề + Bước 2 Quan sát tìm ý + Bước 3 Sắp xếp ý lập dàn ý + Bước 4 Viết bài hoàn chỉnh + Bước 5 Kiểm tra lại bài. Hiện nay Sách giáo khoa không còn những tiết riêng cho Tìm hiểu đề, quan sát tìm ý nhưng qua mỗi đề văn giáo viên phải hướng dẫn học sinh làm theo các bước kể trên. Để rèn cho học sinh thói quen làm tuần tự theo các bước kể trên khi làm văn thì mỗi bước làm giáo viên cũng phải hướng dẫn học sinh một cách tỉ mỉ về phương pháp cũng như cách suy nghĩ, cách thực hiện bài làm. Cụ thể * Bước 1 Tìm hiểu đề - Tác dụng Giúp học sinh xác định được yêu cầu đề bài, tránh làm lạc đề. Nói cách khác tìm hiểu đề để định hướng học sinh nắm được mình đang làm bài văn thuộc thể loại gì, tả cái gì, đối tượng đó có những yêu cầu, giới hạn đến đâu... - Cách thực hiệnHướng dẫn học sinh làm những công việc sau + Đọc kĩ đề. + Phân tích đề. Phân tích đề bằng cách - Gạch 1 gạch dưới các từ xác định thể loại bài văn. 16 - Gạch 2 gạch dưới từ xác định đối tượng miêu tả. Ví dụ Đề bài Hãy miêu tả vẻ đẹp của một dòng sông mà em yêu thích ấn tượng. Học sinh tìm hiểu và phân tích đề bài qua việc trả lời các câu hỏi ?/ Hãy xác định thể loại làm văn? ?/ Đối tượng miêu tả là gì? ?/ Mấy cảnh? Cảnh đó được miêu tả vào thời gian nào ? Thể loại Đối tượng Giới hạn miêu tả miêu tả Không gian Miêu tả Thời gian Dòng sông Mở B ất kì Đặc điểm ấn tượng, thích Sau khi trả lời đúng các câu hỏi trên, học sinh thực hành gạch chân trực tiếp trên đề bài. Đề bài Hãy miêu tả vẻ đẹp của một dòng sông mà em yêu thích ấn tượng. * Bước 2 Bước quan sát và tìm ý - Tầm quan trọng Là bước quyết định thành công của bài văn, học sinh muốn viết được bài văn hay, sống động phải có được sự quan sát trực tiếp đối tượng miêu tả và phải có sự ghi chép tỉ mỉ, chi tiết những đặc điểm mình miêu tả. - Cách thực hiện Giáo viên cần hướng dẫn học sinh quan sát trực tiếp đối tượng miêu tả nhiều lần và bằng nhiều giác quan khác nhau như thị giác, thính giác, vị giác, khứu giác, xúc giác... nhằm giúp các em nhận biết về cảnh đầy đủ và chính xác hơn. 17 * Luyện kĩ năng quan sát Muốn quan sát có hiệu quả, quan sát phải có tính mục đích, người quan sát phải có cách nghĩ, cách cảm của riêng mình. Quan sát để làm văn nhằm phản ánh một đối tượng cụ thể, vừa chi tiết, vừa có tính khái quát. Qua chi tiết, người đọc phải thấy được bản chất của sự việc. Vì vậy quan sát phải có lựa chọn. Nếu yêu cầu các chi tiết cụ thể nhưng đó không phải là những chi tiết rời rạc, tản mạn, mang tính chất liệt kê. Chi tiết không cần nhiều mà phải chọn lọc, lựa chọn những điểm riêng biệt, nổi bật, gây ấn tượng,… Đó là những chi tiết lột tả được cái thần của cảnh. Khi quan sát, cần sử dụng đồng thời nhiều giác quan và điều quan trọng là phải quan sát bằng tấm lòng. Mục đích quan sát sẽ quy định đối tượng và phương pháp quan sát. Để tả cảnh, cần xác định vị trí quan sát. thời điểm quan sát, trình tự và nội dung quan sát. Quan sát phải luôn gắn với việc tìm ý và tìm từ ngữ để diễn tả. Để giúp quan sát và tìm ý, với mỗi đề bài cần có một hệ thống câu hỏi gợi ý nội dung quan sát và các ý cần xác lập. Nếu học sinh không thực hiện tốt bước quan sát và tìm ý thì học sinh sẽ không có chất liệu để làm văn từ đó học sinh sẽ không có hứng thú làm bài hoặc sao chép bài văn từ những bài văn mẫu. Tuy nhiên, giáo viên cần hướng dẫn học sinh cách ghi chép tỉ mỉ những điều mình quan sát tạo thành một cuốn cẩm nang để khi miêu tả học sinh có sẵn tư liệu để làm bài. Thông thường với đề bài nào tôi cũng yêu cầu các em ghi kết quả quan sát theo các ý. Chọn chi tiết nổi bật, nét riêng độc đáo, …có thể bỏ trống ô nếu không phù hợp. Mắt thấy Tai nghe Mũi ngửi Tay sờ Thị giác Thính giác Khứu giác xúc giác … … … … 18 Quan sát theo không gian Vị trí Xa, gần, trên, dưới, trong, ngoài, trái, phải, phía trước, phía sau, … Hoặc quan sát theo thời gian Thời điểm Sáng, trưa, chiều, tối, các mùa trong năm, thời tiết, …. Lưu ý Đây là bước tìm ý ban đầu, cái sườn chung nhưng không phải bài nào cũng theo đủ các ý, các trình tự như trên mà kết hợp cho hài hòa để thể hiện được những nét riêng mà không trùng lặp… Ví dụ Khi tả dòng sông quê hương, học sinh quan sát và hoàn thành sơ đồ tư duy như sau Từ những ghi chép quan sát trên thì chắc chắn các em sẽ làm được những bài văn vô cùng sinh động và hấp dẫn. Tuy nhiên quan sát bằng các giác quan chưa đủ mà giáo viên cũng cần phải hướng dẫn học sinh quan sát theo trình tự không gian và thời gian. Ví dụ Cách quan sát dòng sông quê. 19 Ví dụ Dòng sông được quan sát gắn theo trình tự thời gian thân bài. 20
Thư viện sáng kiến kinh nghiệm Lớp 5 hay nhất, sang kien kinh nghiem Lop 5 cho quy thay co tham khao, skkn Lớp 5 chọn lọc.
5. Mô tả bản chất của sáng kiến Tính mới của sáng kiến* Tình trạng của giải pháp đã biếtTrong chương trình Tiểu học, Tiếng Việt được chia thành các phân môn,mỗi phân môn có nhiệm vụ rèn luyện cho học sinh những kĩ năng nhất môn Tập làm văn là phân môn mang tính tổng hợp cao nhất, nó có vai tròrèn cho học sinh cả bốn kĩ năng, trong đó quan trọng là các kĩ năng nghe, nói,viết. Đối với phân môn này, các em được rèn luyện năng lực trình bày ở dạngvăn bản với nhiều thể loại khác rèn kĩ năng viết văn, đặc biệt là vănmiêu tả cho học sinh là điều cần thiết, vì nếu văn chỉ là bắt buộc thì bài viết sẽkhông có hồn, không làm rung động được người đọc. Muốn học sinh viết đượcmột bài văn hay, muốn để những mầm non văn học không bị thui chột, tàn lụithì người thầy cần quan tâm bồi dưỡng, vun xới theo từng mảng kiến thức đểnâng dần trình độ cho học thực tế giảng dạy khối 5 và dự giờ đồng nghiệp, tôi nhận thấy phânmôn Tập làm văn là phân môn khó nhất trong các phân môn của Tiếng Việt. Khihọc Tập làm văn, HS còn một số hạn chế sau+ Đa số học sinh rất “ngán” học phân môn này. Học sinh chưa có thóiquen quan sát, khai thác đối tượng, chưa biết sắp xếp ý, câu còn rời rạc, nghèonàn, các em chưa biết bộc lộ xúc cảm của mình đối với sự vật được miêu tả.+ Học sinh chưa vận dụng được các kiến thức, kĩ năng đã học trong cácphân môn của Tiếng Việt, của các môn học khác, của các lớp dưới vào học tậpmôn Tập làm văn nên các bài viết văn ở lớp cũng như bài kiểm tra, chất lượngbài văn miêu tả chưa cao.+ Vốn từ của các em chưa phong phú, chưa hiểu hết nghĩa của từ nên việcvận dụng vào bài làm còn nhiều sai sót. Kĩ năng làm văn miêu tả của các em hầunhư không có. Các em chưa biết cách quan sát, làm một bài văn miêu tả đúngquy trình, chưa biết cách chọn lọc các chi tiết miêu tả đặc sắc để đưa vào bàivăn, làm cho bài văn thành “một mớ hỗn độn” hay “một bản liệt kê”. Nhiều họcsinh viết chữ chưa đẹp, mắc lỗi chính tả, tẩy xóa, thì việc đọc lại bài, trauchuốt câu văn, sửa ý, sửa từ quả là khó khăn. Bạn đang xem tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Giải pháp rèn kĩ năng làm văn miêu tả Lớp 5", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trênân môn mang tính tổng hợp cao nhất, nó có vai trò rèn cho học sinh cả bốn kĩ năng, trong đó quan trọng là các kĩ năng nghe, nói, viết. Đối với phân môn này, các em được rèn luyện năng lực trình bày ở dạng văn bản với nhiều thể loại khác rèn kĩ năng viết văn, đặc biệt là văn miêu tả cho học sinh là điều cần thiết, vì nếu văn chỉ là bắt buộc thì bài viết sẽ không có hồn, không làm rung động được người đọc. Muốn học sinh viết được một bài văn hay, muốn để những mầm non văn học không bị thui chột, tàn lụi thì người thầy cần quan tâm bồi dưỡng, vun xới theo từng mảng kiến thức để nâng dần trình độ cho học sinh. 2 Qua thực tế giảng dạy khối 5 và dự giờ đồng nghiệp, tôi nhận thấy phân môn Tập làm văn là phân môn khó nhất trong các phân môn của Tiếng Việt. Khi học Tập làm văn, HS còn một số hạn chế sau + Đa số học sinh rất “ngán” học phân môn này. Học sinh chưa có thói quen quan sát, khai thác đối tượng, chưa biết sắp xếp ý, câu còn rời rạc, nghèo nàn, các em chưa biết bộc lộ xúc cảm của mình đối với sự vật được miêu tả. + Học sinh chưa vận dụng được các kiến thức, kĩ năng đã học trong các phân môn của Tiếng Việt, của các môn học khác, của các lớp dưới vào học tập môn Tập làm văn nên các bài viết văn ở lớp cũng như bài kiểm tra, chất lượng bài văn miêu tả chưa cao. + Vốn từ của các em chưa phong phú, chưa hiểu hết nghĩa của từ nên việc vận dụng vào bài làm còn nhiều sai sót. Kĩ năng làm văn miêu tả của các em hầu như không có. Các em chưa biết cách quan sát, làm một bài văn miêu tả đúng quy trình, chưa biết cách chọn lọc các chi tiết miêu tả đặc sắc để đưa vào bài văn, làm cho bài văn thành “một mớ hỗn độn” hay “một bản liệt kê”. Nhiều học sinh viết chữ chưa đẹp, mắc lỗi chính tả, tẩy xóa, thì việc đọc lại bài, trau chuốt câu văn, sửa ý, sửa từ quả là khó khăn. + Khi làm văn miêu tả, nhiều học sinh lại thiếu vốn sống thực tế, hay bắt chước các câu, đoạn văn mẫu nên nhiều bài làm có các câu, đoạn giống nhau. Thậm chí còn một số em nam học rất tốt môn Toán nhưng lại ngại học văn, viết văn hoặc làm bài văn rất ngắn để đối phó sự kiểm tra của giáo viên. Nguyên nhân dẫn đến tồn tại trên là vốn Tiếng Việt của các em còn hạn chế. Trong khi đó, việc học kiểu bài miêu tả trong phân môn Tập làm văn lớp 5 lại yêu cầu vốn từ ngữ, năng lực tư duy rất lớn. Chương trình Tiếng Việt mới có rất nhiều ưu điểm trong việc phát huy sáng tạo của học sinh nhưng lại tương đối nặng đối với những học sinh ở mức đạt chuẩn và chưa đạt chuẩn. Đôi lúc, giáo viên vẫn lạm dụng phương pháp “làm mẫu” đối với những học sinh này, từ đó dẫn đến tình trạng học sinh “coppy” nhau hoặc học thuộc bài văn mẫu. Với học sinh lớp 5, việc rèn kĩ năng làm văn miêu tả cho các em là cần thiết. Học tốt văn miêu tả sẽ là điều kiện thuận lợi để học tốt các môn học khác ở Tiểu học và học tiếp lên các lớp trên. Việc giúp các em hoàn thành tốt bài văn miêu tả sẽ góp phần nâng cao năng lực cảm thụ văn học và giúp các em khám phá được những cái đẹp qua việc xây dựng văn bản. Để thực hiện được mục tiêu của môn Tập làm văn, cần phải xây dựng được kĩ năng nói và viết thành thạo, cần huy động tất cả các kiến thức của các phân môn Tập đọc, Chính tả, Luyện từ và câu, Kể chuyện, Làm thế nào để học sinh lớp 5 viết được bài văn miêu tả hay? Tôi đã nghiên cứu, tìm tòi, phát hiện ra một số nguyên nhân và mạnh dạn đưa ra Giải pháp rèn kĩ năng làm văn miêu tả Lớp 5. * Giải pháp có tính mới 1. Rèn cho học sinh kĩ năng quan sát, chọn đề tài và lập dàn ý 2. Rèn kĩ năng diễn đạt, cảm thụ bài văn 3. Làm giàu vốn từ cho học sinh 3 Nội dung sáng kiến Mục tiêu, nhiệm vụ của sáng kiến Trên cơ sở kiến thức, kĩ năng về văn miêu tả các em đã được học, tôi không có nhiều tham vọng mà chỉ nhằm mục đích đóng góp một phần công sức nhỏ bé của mình vào công tác giáo dục của nhà trường. Với sáng kiến nhỏ này, tôi mong muốn sẽ có được bài học kinh nghiệm để có thể áp dụng vào thực tiễn giảng dạy phân môn Tập làm văn trong trường Tiểu học. pháp nghiên cứu. - Phương pháp đọc tài liệu, tổng hợp, hệ thống kiến thức. - Phương pháp điều tra. - Phương pháp nghiên cứu sản phẩm. - Phương pháp tổng kết kinh nghiệm. Các biện pháp thực hiện Rèn cho học sinh kĩ năng quan sát, chọn đề tài và lập dàn ý a. Kĩ năng quan sát Quan sát khi làm văn không khác gì người họa sĩ cần quan sát mẫu vẽ. Khi làm văn miêu tả, nếu các em không được quan sát trực tiếp thì dù có trí tưởng tượng tốt bao nhiêu bài văn vẫn nghèo ý, thiếu chân thật. Vì vậy tôi đã hướng dẫn học sinh quan sát theo trình tự sau + Quan sát sự vật, cảnh vật theo trình tự từ xa đến gần, từ trong ra ngoài, từ bao quát đến cụ thể và ngược lại. Ghi chép những điều đã quan sát được. + Quan sát sự vật hay cảnh vật theo nhiều hình thức Quan sát trực tiếp đối tượng buổi chào cờ đầu tuần, quang cảnh trường trước buổi học hoặc trong giờ ra chơi, thầy giáo, cô giáo, người thân,; Quan sát ở nhà ngôi nhà em đang ở, quang cảnh con đường nơi em ở vào buổi sáng, ; Quan sát qua báo, ti vi một ca sĩ đang biểu diễn, một danh hài mà em thích, .; + Sử dụng nhiều giác quan trong khi quan sát. b. Chọn đề tài gần gũi, quen thuộc với học sinh Học sinh năng khiếu văn có thể viết được những bài văn miêu tả chỉ bằng quan sát qua tranh ảnh, phim, Nhưng đối với học sinh bình thường của lớp tôi, những đề tài xa lạ là điều cần tránh mà giáo viên lại yêu cầu các em hình dung, tưởng tượng rồi đặt câu, viết một bài văn miêu tả hoàn chỉnh với một đối tượng mà các em chưa nhìn thấy bao giờ thì đúng là điều quá sức đối với các em. Ví dụ Đề bài trong sách giáo khoa Tiếng Việt 5- tập 2- trang 75 Tả một đồ vật trong viện bảo tàng hoặc trong nhà truyền thống mà em đã có dịp quan sát. Với những đề bài không sát với vùng miền, tôi đã bàn trong tổ, đưa ý kiến thay bằng đề bài khác thông qua buổi sinh hoạt chuyên môn của tổ. Tuy nhiên, nói như vậy không có nghĩa là không cho học sinh có cơ hội phát huy trí tưởng tượng của mình. Trong một lớp học có nhiều đối tượng học sinh như lớp tôi, khi ra đề bài cho các em, tôi luôn tạo cho các em quyền lựa chọn bằng cách ra nhiều đề bài từ 2 đến 4 đề để các học sinh trong lớp đều có thể tự do chọn đề bài thích hợp cho mình, tránh áp đặt cho các em. 4 kĩ năng lập dàn ý, sắp xếp, diễn đạt ý Đây là một yêu cầu bắt buộc của tôi. Vì có lập được dàn bài thì mới có thể tìm ý, sắp xếp ý, viết thành một bài văn mạch lạc, bố cục rõ ràng, ý văn trong sáng. Ví dụ Đề bài Tả một người bạn thân của em. * Mở bài Trong số các bạn lớp em, người mà em thân thiết nhất là Nga, bởi chúng em học với nhau từ nhỏ, ngồi cùng bàn với nhau. * Thân bài + Nga bằng tuổi em nhưng bạn ấy cao hơn em một cái đầu. + Bạn có nước da ngăm ngăm của một người con gái đồng quê quen dầm mưa dãi nắng. + Bạn rất hay cười, mỗi khi bạn cười, hai lúm đồng tiền hiện rõ trên khuôn mặt ngăm đen dễ thương. + Đẹp nhất vẫn là đôi mắt to với hàng lông mi dài, cong vút. Đôi mắt ấy luôn ánh lên vẻ hồn nhiên, chất phác. + Mái tóc bạn đen óng, mượt mà. + Nga viết chữ rất đẹp, bạn đã được chọn dự thi viết chữ đẹp cấp thị xã và đạt giải Nhì. Nga luôn là học sinh dẫn đầu lớp. + Nga sống rất chan hòa, cởi mở và luôn giúp đỡ những bạn trong lớp. + Điều mà em cảm phục nhất ở Nga là bạn ấy đã dành toàn bộ phần thưởng của mình tặng bạn Tuấn nhà nghèo nhất lớp. * Kết bài Mỗi khi vắng Nga, em cảm thấy nhớ vô cùng. Em sẽ cố gắng làm những điều thật tốt để tình bạn của chúng em mãi mãi bền lâu. Khi lập dàn ý, tôi hướng dẫn các em nên chọn những chi tiết đặc sắc, tiêu biểu thì mới nhận ra cá tính riêng của nhân vật. Bạn học sinh trong bài là một học sinh vùng nông thôn với những đặc điểm riêng, cá tính riêng không lẫn lộn với bất cứ bạn học sinh nào khác. Các em cần bộc lộ cảm xúc tự nhiên, chân thật, không sáo rỗng. kĩ năng diễn đạt, cảm thụ bài văn Muốn viết văn đúng và hay thì trước hết phải nói đúng và hay. Tôi đã giúp học sinh phát âm đúng, dùng từ chính xác, đặt câu đúng ngữ pháp, mạch lạc, biết dùng giọng điệu để thể hiện cảm xúc, luôn chú ý từng đối tượng học sinh, sửa lỗi cho từng em, động viên sự sáng tạo của các em dù là rất nhỏ. Tôi luôn quan tâm đến mọi đối tượng học sinh đồng thời vẫn đảm bảo phát triển năng lực cảm thụ văn học đối với học sinh năng khiếu. Ví dụ Ngoài ngôi nhà thân yêu đã gắn bó với tuổi thơ của em thì trường học chính là ngôi nhà thứ hai của em Mở bài của một học sinh trên chuẩn. Nằm cạnh con đường làng trải đá là ngôi trường thân yêu của em Mở bài của 5 một học sinh đạt chuẩn. Mỗi ngày em thường cắp sách đến ngôi trường quen thuộc của em Mở bài của một học sinh chưa đạt chuẩn. Khi học sinh đặt câu nêu cảm nghĩ của mình ở phần kết bài, tôi phải hướng dẫn cụ thể cho các em bằng những gợi ý như Em hãy nói tình cảm của mình đối với ngôi trường yêu, ghét? Em rất yêu ngôi trường. Em thể hiện tình yêu đó bằng những việc làm như thế nào ? Em trồng cây, chăm sóc bồn hoa để trường em ngày càng đẹp hơn hay Em không bao giờ phá phách làm hỏng đồ đạc hay bẻ hoa của nhà trường. Tuyệt đối không được hướng dẫn học sinh một cách đồng loạt để các em có những câu văn nghĩa chung chung như“Trường em mái ngói đỏ tươi. Cột cờ cao chót vót. Trên đỉnh cột cờ, lá cờ đỏ sao vàng bay phấp phới. Giờ ra chơi, các bạn ùa ra khỏi sân như bầy ong vỡ tổ”. Để hướng dẫn tìm hiểu, cảm nhận cái hay, cái đẹp của đoạn văn, tôi hướng dẫn các em hình thành thói quen suy nghĩ, tự đặt và ghi các câu hỏi Đoạn văn này miêu tả đặc điểm gì của nhân vật/cảnh vật ? Đoạn văn này dùng những từ láy nào để miêu tả hình ảnh của nhân vật/ cảnh vật ? Có thể dùng những hình ảnh so sánh nào cho đoạn văn ?... Bên cạnh đó, tôi còn hướng dẫn để học sinh tìm ra những nét đặc sắc của cảnh/nhân vật. Những nét đặc sắc đó giúp người đọc hình dung được cảnh vật/nhân vật cụ thể mà không lẫn lộn với cảnh vật/nhân vật khác. Ví dụ “ Ngôi trường của em không giống bất cứ một ngôi trường Tiểu học nào. Đó là một ngôi trường kiên cố nằm cạnh con đường khá rộng, phía sau là cánh đồng lúa rộng bát ngát. Mùa nào cũng vậy, ngôi trường luôn nhận được những làn gió mát từ biển thổi vào và từ cánh đồng đưa tới. Đây là ngôi trường thân yêu đã được xây dựng từ rất lâu rồi”. Như vậy, việc diễn đạt và cảm nhận cái hay, cái đẹp của bài văn sẽ giúp các em hình thành những cảm xúc thẩm mĩ, giúp cho việc học Tập làm văn miêu tả tốt hơn. Làm giàu vốn từ cho học sinh Làm giàu vốn từ cho học sinh có nghĩa là giúp cho các em nắm một số từ gợi tả để có thể dùng trong miêu tả. Ví dụ Tôi yêu cầu học sinh tìm các từ ngữ gợi tả mái tóc vàng hoe, đen nhánh, bạc phơ, cháy nắng, óng ả, xoăn tít,; khuôn mặt bầu bĩnh, vuông chữ điền, trái xoan, khắc khổ,; nước da trắng trẻo, trắng hồng, ngăm ngăm, bánh mật, đen sạm,; dáng người nhỏ nhắn, gầy gò, đẫy đà, to khoẻ, cao cao,; nụ cười khanh khách, sằng sặc, tủm tỉm, ha hả,. Cho học sinh tìm từ bằng các hình thức như quan sát thực tế quan sát người bạn,, quan sát tranh ảnh, xem phim, đọc sách, nhất là qua các phân môn của Tiếng Việt hoặc các môn học khác và qua hình thức trò chơi, Luyện viết câu đúng ngữ pháp cũng là một yêu cầu cơ bản vì câu là đơn vị của lời nói. Đối với học sinh đạt chuẩn/chưa đạt chuẩn, chỉ cần các em đặt được câu đúng, thể hiện được ý cần nói. Nhưng đối với học sinh trên chuẩn, các em không những đặt câu đúng ngữ pháp mà câu văn còn phải giàu hình ảnh và tạo được sắc thái riêng của đối tượng miêu tả. Ví dụ 1 Miêu tả mái tóc của một bạn 6 Với học sinh chưa đạt chuẩn Tóc bạn Loan đen huyền. Với học sinh đạt chuẩn Bạn Loan có mái tóc đen huyền, dài ngang vai. Với học sinh trên chuẩn Loan có mái tóc đen huyền, óng ả, xoã ngang vai mà không thể lẫn lộn với bất cứ bạn nào trong lớp được. Ví dụ 2 Viết câu văn miêu tả dòng sông Với học sinh chưa đạt chuẩn Dòng sông chở nặng phù sa chảy qua làng em. Với học sinh đạt chuẩn Dòng sông như môt dải lụa đào chảy qua làng em. Với học sinh trên chuẩn Dòng sông như môt dải lụa đào vắt qua cánh đồng xanh mướt lúa khoai. Như vậy, nếu biết dùng dấu câu đúng sẽ giúp cho việc diễn đạt được rõ ràng; người đọc, người nghe dễ dàng tiếp nhận thông tin. Việc dạy cho các em sử dụng đúng dấu câu đã được tiến hành từ các lớp dưới và phải được thường xuyên ôn luyện. Kết luận Qua kết quả khảo sát, tôi nhận thấy việc rèn kĩ năng làm văn miêu tả cho học sinh tức là tổ chức cho học sinh biết cách nhìn nhận, khai thác sự vật một cách bài bản. Từ kiến thức nắm được, các em phát huy khả năng sáng tạo, khả năng quan sát, chọn lọc tinh tế với đối tượng mà viết lên những bài văn bằng tất cả cảm xúc, tình cảm của mình. Việc vận dụng linh hoạt các phương pháp và hình thức dạy học cũng giúp cho học sinh thích thú môn học, học sinh sẽ học tốt hơn, nhớ lâu hơn. Khả năng áp dụng của sáng kiến Áp dụng cho học sinh khối 5 khi học Tập làm văn miêu tả. 6. Những thông tin cần được bảo mật Không có. 7. Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến Đối với giáo viên Phải thực sự quan tâm, yêu thương, gần gũi và tạo không khí vui để học, giúp học sinh yêu thích môn học. Tích cực sưu tầm tài liệu và học hỏi để đúc kết kinh nghiệm từ đồng nghiệp về phương pháp dạy học, không nên gây áp lực đối với học sinh. Đối với tổ chuyên môn Thường xuyên tổ chức các chuyên đề dạy môn Tiếng Việt nói chung và phân môn Tập làm văn nói riêng, trao đổi ý tưởng mới trong dạy học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh. Học sinh Đọc kĩ đề bài, phân tích đề cặn kẽ; rèn luyện kĩ năng quan sát, lập dàn ý; sử dụng từ ngữ, cách diễn đạt câu; 8. Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng kiến theo ý kiến của tác giả Kết quả Sau một thời gian áp dụng sáng kiến này, chất lượng phân môn Tập làm văn của lớp tôi có sự chuyển biến rõ rệt được Ban Giám Hiệu nhà trường và đồng nghiệp đánh giá cao. Cụ thể, kết quả phân môn Tập làm văn lớp tôi chủ nhiệm của 2 năm gần đây như sau điểm tối đa của Tập làm văn là 8 điểm 7 NĂM HỌC TSHS KẾT QUẢ điểm 8 điểm 7 điểm 5-6 Dưới 5 TS % TS % TS % TS % Đầu năm 3 9,1% 9 27,3% 19 57,6% 2 6% 2019 - 2020 33 HKI 5 15,1% 12 36,4% 15 45,5% 1 3% HKII 8 24,2% 13 39,4% 12 36,4% 0 0% Cả năm Đầu năm 0 0% 4 9,3% 31 72,1% 8 18,6% 2020 - 2021 43 HKI 7 16,3% 13 30,2% 21 48,8% 2 4,7% HKII Cả năm Bài học Để học sinh lớp 5 có kĩ năng làm văn miêu tả, bản thân tôi rút ra được một số bài học kinh nghiệm như sau 1. Trước hết, người thầy phải luôn có lòng yêu nghề, yêu người, có ý thức trách nhiệm, không ngừng học hỏi đồng nghiệp và mạnh dạn áp dụng những cái mới vào trong thực tiễn giảng dạy. 2. Phân loại học sinh ngay từ đầu năm học để có kế hoạch và biện pháp dạy học phù hợp với từng đối tượng học sinh. 3. Dạy tập làm văn theo quan điểm tích hợp kiến thức, kĩ năng giữa bài trước với bài sau, giữa các phân môn Tiếng Việt với nhau, giữa kiến thức các môn học khác, giữa lớp dưới với lớp trên. 4. Sử dụng phối hợp nhiều phương pháp nhằm khuyến khích học sinh bộc lộ trí tuệ và cảm xúc của mình như - Phương pháp phân tích ngôn ngữ Trên cơ sở các văn bản mẫu, học sinh khai thác, nhận biết kết cấu bài văn, trình tự miêu tả. - Phương pháp trực quan Quan sát đối tượng trên thực tế ở lớp hoặc ở nhà, quan sát qua phim ảnh. - Phương pháp rèn luyện theo mẫu Dựa vào văn bản mẫu, học sinh tạo lập các văn bản mới theo nét riêng của các em. - Phương pháp thực hành giao tiếp Tạo điều kiện cho mọi đối tượng học sinh được trình bày sản phẩm của mình, được tranh luận để tìm ra cái mới. 5. Trong giảng dạy, người giáo viên Tiểu học lên lớp giảng dạy nhiều môn học nên cần phải thực sự có kiến thức, am hiểu các lĩnh vực khác nhau của cuộc sống. Phải trang bị cho mình một phương pháp giảng dạy khoa học, dễ hiểu với học sinh. Phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh thì mới đáp ứng được yêu cầu dạy học hiện nay. 8 9. Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng kiến theo ý kiến của tổ chức, cá nhân đã tham gia áp dụng sáng kiến lần đầu, kể cả áp dụng thử nếu có .................................................................................................... .................................................................................................... .................................................................................................... .................................................................................................... .................................................................................................... .................................................................................................... .................................................................................................... .................................................................................................... .................................................................................................... .................................................................................................... Tôi xin cam đoan mọi thông tin nêu trong đơn là trung thực, đúng sự thật và hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật Bình Long, ngày 20 tháng 02 năm 2021 Người nộp đơn Ký và ghi rõ họ tên Lê Thị Khuyên .................................................................................................... .................................................................................................... .................................................................................................... .................................................................................................... .................................................................................................... .................................................................................................... .................................................................................................... .................................................................................................... .................................................................................................... .................................................................................................... .................................................................................................... .................................................................................................... .................................................................................................... .................................................................................................... 9 .................................................................................................... .................................................................................................... .................................................................................................... .................................................................................................... .................................................................................................... .................................................................................................... .................................................................................................... .................................................................................................... ............................
Trong hệ thống giáo dục và đào tạo thì giáo dục bậc tiểu học là rất quan trọng. Trường tiểu học là nơi con người được tổ chức học tập một cách chính quy và có tổ chức nhất. Vào tiểu học, mỗi học sinh được tạo cơ hội để tiếp thu giáo dục, ý thức đầy đủ nghĩa vụ, trách nhiệm cũng như vinh dự với các hoạt động học tập và rèn luyện. Trong chương trình tiểu học, cùng với môn toán môn Tiếng việt chiếm khá nhiều thời gian so với các môn học khác. môn Tiếng Việt có nhiệm vụ hình thành và phát triển cho học sinh các kĩ năng sử dụng Tiếng Việt để học tập và giao tiếp trong các môi trường của lứa qua việc dạy học Tiếng Việt, góp phần rèn luyện tư duy, cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về xã hội, tự nhiên và con người, về văn hóa, văn học của Việt Nam và nước ngoài. Bồi dưỡng tình yêu Tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của Tiếng Việt, góp phần hình thành con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Môn Tiếng Việt gồm nhiều phân môn khác nhau như tập đọc, luyện từ và câu, kể chuyện, tập viết, chính tả, tập làm văn. Song khó hơn cả đối với người dạy cũng như đối với người học là phân môn Tập làm văn. Tập làm văn là một phân môn rất quan trọng trong chương trình dạy học tiểu học, nó không chỉ giúp học sinh hình thành các kĩ năng Nghe, nói, đọc, viết mà còn rèn cho học sinh khả năng giao tiếp, quan sát, phân tích tổng hợp và đặc biệt còn hình thành cho học sinh những phẩm chất tốt đẹp của con người mới hiện đại và năng động. Dạy Tập làm văn là dạy học sinh cách nhìn nhận cuộc sống xung quanh trong thực tế vốn có của nó với cảm xúc thực của các em. Đồng thời cũng dạycác em cách ghi lại sự nhìn nhận ấy qua các văn bản- còn gọi là đoạn văn, bài văn một cách chính xác về đối tượng, về ngữ pháp Tiếng Việt. Bạn đang xem tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Giúp học sinh lớp 5 làm tốt bài văn tả cảnh", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên1. Mở đầu - Lí do chọn đề tài Trong hệ thống giáo dục và đào tạo thì giáo dục bậc tiểu học là rất quan trọng. Trường tiểu học là nơi con người được tổ chức học tập một cách chính quy và có tổ chức nhất. Vào tiểu học, mỗi học sinh được tạo cơ hội để tiếp thu giáo dục, ý thức đầy đủ nghĩa vụ, trách nhiệm cũng như vinh dự với các hoạt động học tập và rèn luyện. Trong chương trình tiểu học, cùng với môn toán môn Tiếng việt chiếm khá nhiều thời gian so với các môn học khác. môn Tiếng Việt có nhiệm vụ hình thành và phát triển cho học sinh các kĩ năng sử dụng Tiếng Việt để học tập và giao tiếp trong các môi trường của lứa qua việc dạy học Tiếng Việt, góp phần rèn luyện tư duy, cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về xã hội, tự nhiên và con người, về văn hóa, văn học của Việt Nam và nước ngoài. Bồi dưỡng tình yêu Tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của Tiếng Việt, góp phần hình thành con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Môn Tiếng Việt gồm nhiều phân môn khác nhau như tập đọc, luyện từ và câu, kể chuyện, tập viết, chính tả, tập làm văn. Song khó hơn cả đối với người dạy cũng như đối với người học là phân môn Tập làm văn. Tập làm văn là một phân môn rất quan trọng trong chương trình dạy học tiểu học, nó không chỉ giúp học sinh hình thành các kĩ năng Nghe, nói, đọc, viết mà còn rèn cho học sinh khả năng giao tiếp, quan sát, phân tích tổng hợp và đặc biệt còn hình thành cho học sinh những phẩm chất tốt đẹp của con người mới hiện đại và năng động. Dạy Tập làm văn là dạy học sinh cách nhìn nhận cuộc sống xung quanh trong thực tế vốn có của nó với cảm xúc thực của các em. Đồng thời cũng dạycác em cách ghi lại sự nhìn nhận ấy qua các văn bản- còn gọi là đoạn văn, bài văn một cách chính xác về đối tượng, về ngữ pháp Tiếng Việt. Tập làm văn lớp 5 gồm nhiều nội dung, một trong những nội dung chính của chương trình tập làm văn 5 là văn miêu tả. Tả cảnh là một kiểu bài khó vì học sinh không có khả năng quan sát tinh tế, không cảm nhận được vẻ đẹp của cảnh hay những thay đổi của cảnh, không biết dựa vào cảm xúc của mình để làm cảnh đó trở nên đẹp hơn, sinh động hơn, gần gũi hơn. Làm thế nào để cho học sinh làm văn hay và có hiệu quả thì lại là một vấn đề rất khó khăn, cần phải suy nghĩ và dày công nghiên cứu của những người làm công tác giáo dục. Thực tế giảng dạy Tập làm văn phần tả cảnh, bản thân người giáo viên là người hướng dẫn đôi khi cũng cảm thấy lúng túng, bí từ và không biết phải hướng dẫn thế nào để học sinh có thể viết được bài văn hay, có hình ảnh có cảm xúc. Một số tài liệu như sách giáo khoa, sách giáo viên, sách thiết kế thì hướng dẫn chung chung, còn một số sách khác như văn mẫu lại chỉ có các bài văn đã viết sẵn mà không có một sự hướng dẫn cụ thể nào để định hướng cho giáo viên cũng như học sinh. Là một giáo viên tiểu học tôi luôn trăn trở suy nghĩ để làm thế nào cho học sinh thích làm văn, viết văn chân thật, có cảm xúc và sinh động. Năm học 2015-2016, tôi mạnh dạn đề xuất một vài biện pháp nhỏ “Giúp học sinh lớp 5 làm tốt bài văn tả cảnh” để bạn bè đồng nghiệp cùng tham khảo và suy nghĩ. - Mục đích nghiên cứu Từ những thực tế giảng dạy của giáo viên và học tập của học sinh, việc đưa ra một số biện pháp giúp học sinh lớp 5 làm tốt bài văn tả cảnh nhằm mục đích sau - Tìm hiểu những ưu điểm và hạn chế trong quá trình dạy và học của giáo viên và học sinh. - Đưa ra một số biện pháp để phát huy các ưu điểm đó và đặc biệt là đề ra biện pháp để khắc phục những hạn chế khi dạy và học văn miêu tả. - Giúp học sinh có hứng thú với phân môn Tập làm văn nói chung và văn tả cảnh nói riêng. - Đối tượng nghiên cứu Một số giải pháp giúp học sinh lớp 5 làm tốt văn tả cảnh. - Phương pháp nghiên cứu * Phương pháp nghiên cứu xây dưng cơ sở lí thuyết. - Đọc các tài liệu giáo dục có liên quan đến tâm lí học sinh, tài liệu, sách giáo khoa. - Đọc và tìm hiểu về một số phương pháp dạy Tiếng Việt, các tài liệu bồi dưỡng học sinh giỏi môn Tiếng Việt. * Phương pháp điều tra, khảo sát thực tế. - Phỏng vấn học sinh các vấn đề có liên quan. - Đọc và phân tích bài văn của học sinh. - Trao đổi về phương pháp dạy học với giáo viên trong khối. * .Phương pháp tổng kết kinh nghiêm. * .Phương pháp so sánh đối chiếu. 2 . Nội dung sáng kiến kinh nghiệm Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm Văn tả cảnh là loại văn dùng lời với những hình ảnh, cảm xúc làm cho người đọc, người nghe có thể hình dung được rõ nét và cụ thể về một cảnh vật nào đó xung quanh ta. Như vậy văn tả cảnh có thể xem là một văn bản nghệ thuật có sử dụng ngôn ngữ văn chương để miêu tả sự vật hiện tượng một cách cụ thể sinh động. Bất kì hiện tượng nào trong thực tế đời sống cũng có thể miêu tả được, tuy nhiên bằng những cảm xúc khác nhau của mỗi người, mỗi hiện tượng lại được lại được miêu tả với cách thể hiện riêng qua việc quan sát, sử dụng từ ngữ và cách diễn đạt khác nhau. Đối tượng của bài văn tả cảnh là những cảnh vật quen thuộc xung quanh ta như biển cả, cánh đồng, hàng cây...Khi viết bài văn tả cảnh cần đặc biệt tập trung vào những nét tiêu biểu của cảnh vật đó. Để bài văn được sinh động và hấp dẫn hơn với người đọc ta có thể lồng vào đó việc tả người, tả vật với nhưng cung bậc cảm xúc khác nhau. Ngôn ngữ trong văn miêu tả cần chính xác, cụ thể, giàu hình ảnh và có nét riêng biệt. Chính vì thể để có bài văn hay đòi hỏi người viết phải có hiểu biết về phương pháp làm văn, phải biết dùng từ ngừ, biết vận dụng linh hoạt các biện pháp nghệ thuật tu từ được học. Thực trạng vấn đề a. Sách giáo khoa. Hiện nay theo phân phối chương trình trong sách giáo khoa có 19 tiết tả cảnh, trong đó có 13 tiết lý thuyết kết hợp thực hành, còn lại là kiểm tra và trả bài. Nội dung tả cảnh tập trung vào các cảnh Một buổi trong ngày, một hiện tượng thiên nhiên, trường học, cảnh sông nước. Với các nội dung trên, yêu cầu viết lại chủ yếu là đoạn văn. Do đó, với mỗi cảnh học sinh ít được viết hoàn thiện một bài văn hoàn chỉnh ngay trên lớp để thầy cô và bạn bè trực tiếp góp ý. b. Người học về phía học sinh - Học sinh chưa có hứng thú viết văn đặc biệt là văn miêu tả - Khi làm văn, học sinh miêu tả hời hợt, chung chung không là nổi bật được cảnh đang tả. - Bài văn học sinh làm thường vay mượn ý tình của người khác, các em thường sao chép những bài văn mẫu thành bài văn của mình không kể đầu bài quy định như thế nào. Với cách làm ấy các em không cần biết đối tượng cần miêu tả gì, không chú ý tới đặc điểm nổi bật tạo nên nét riêng của cảnh, cũng như không có cảm xúc về nó. - Học sinh chưa có ý thức quan sát đối tượng miêu tả và ghi chép những điều quan sát được một cách cụ thể và chi tiết. - Học sinh tiểu học vốn sống, vốn kiến thức và những rung cảm trước cái đẹp còn hạn chế nên chưa thổi được vào cảnh cái hồn để cảnh miêu tả trở nên sinh động, ấn tượng hơn. - Học sinh chưa có phương pháp làm văn cụ thể, việc tiếp thu kiến thức làm văn đến vận dụng kiến thức đó chưa chủ động và linh hoạt. - Kĩ năng vận dụng các từ ngữ gợi hình, gợi tả và các biện pháp nghệ thuật tu từ còn lúng túng. c Người dạy - Giáo viên chỉ có một con đường duy nhất là hình thành các hiểu biết về lí thuyết, thể loại văn, kĩ năng làm văn... Đó là qua phân tích các bài văn mẫu với lý thuyết khô khan, khó hiểu. - Giáo viên chưa chủ động, sáng tạo trong dạy học, chưa gây hứng thú cho học sinh khi học văn. - Một số giáo viên còn mắc bệnh thành tích trong dạy học. Để đối phó với việc học sinh làm kém và đảm bảo “chất lượng” khi kiểm tra, thi cử... nhiều cô giáo, thầy giáo cho học sinh học thuộc làm sẵn một số bài văn mẫu để các em khi gặp đầu bài tương tự cứ thế mà chép ra làm cho các em lệ thuộc vào bài mẫu, không có sáng tạo trong làm bài. - Ra đề bài chưa thích hợp với học sinh theo từng vùng miền, địa phương. Khiến học sinh vô cùng lúng túng khi miêu tả. Ví dụ Đề bài yêu cầu tả cánh đồng lúa chín, thực tế học sinh chưa được nhìn thấy hay được quan sát cánh đồng lúa bao giờ. - Giáo viên không thực hiện đúng các yêu cầu khi trả bài viết của học sinh, không giúp các em nhận thấy được những lỗi sai của mình khi làm bài để có sự chỉnh sửa rút kinh nghiệm cho bài làm sau. Các biện pháp đã sử dụng để giúp học sinh lớp 5 làm tốt văn tả cảnh Đứng trước thực trạng dạy và học như trên yêu cầu đặt ra cấp thiết là phải đổi mới phương pháp dạy học để học sinh đến với phân môn Tập làm văn thể loại miêu tả cảnh một cách say mê, hứng thú để từ đó có cảm xúc viết văn. Từ kinh nghiệm dạy học của mình, tôi xin đưa ra một số biện pháp để giải quyết trình bày các vấn đề được nêu ở trên để học sinh làm tốt bài văn tả cảnh như sau - Học sinh cần nắm được 4 yêu cầu khi làm văn miêu tả + Cụ thể hóa sự vật tả cái gì? Ví dụ Tả biển thì tập trung tả biển, không miên man tả sâu cảnh con đường dẫn ra biển hay cảnh trời mây vào thời điểm đó cho dù các sự vật đó cũng có liên quan. + Cá thể hóa sự vật tả như thế nào?. Tả cảnh nào thì người đọc hình dung cảnh đó chứ không bị lẫn lộn với cảnh khác. Ví dụ Tả cảnh biển thì phải tả chủ yếu những yêu tố liên quan không thể tách rời như Nước, sóng, thuyền bè, bãi cát... + Mục đích hóa sự vật tả với mục đích gì Ví dụ Tả biển với mục đích đó là tả lại một cảnh đẹp rất đáng tự hào của người dân quê hương. + Cảm xúc hóa sự vật tả với tư tưởng, tình cảm, thái độ ra sao? Ví dụ Tả biển với niềm tự hào, với sự ngưỡng mộ về một vẻ đẹp nên thơ... - Cung cấp cho học sinh các bước làm văn miêu tả. + Bước 1 Tìm hiểu đề + Bước 2 Quan sát tìm ý + Bước 3 Sắp xếp ý lập dàn ý + Bước 4 Viết bài hoàn chỉnh + Bước 5 Kiểm tra lại bài. Tuy rằng hiện nay sách giáo khoa không còn những tiết riêng cho tìm hiểu đề, quan sát tìm ý nhưng qua mỗi đề văn giáo viên phải hướng dẫn học sinh làm theo các bước kể trên. Để rèn cho học sinh thói quen làm tuần tự theo các bước kể trên khi làm văn thì mỗi bước làm giáo viên cũng phải hướng dẫn học sinh một cách tỉ mỉ về phương pháp cũng như cách suy nghĩ, cách thực hiện bài làm. Cụ thể * Bước 1 Tìm hiểu đề - Tác dụng Giúp học sinh xác định được yêu cầu đề bài, tránh làm lạc đề. Nói cách khác tìm hiểu đề để định hướng học sinh nắm được mình đang làm bài văn thuộc thể loại gì, tả cái gì, đối tượng đó có những yêu cầu, giới hạn đến đâu... - Cách thực hiện Hướng dẫn học sinh làm những công việc sau + Đọc kĩ đề. + Phân tích đề. Phân tích đề bằng cách - Gạch 1 gạch dưới các từ xác định thể loại bài văn. - Gạch 2 gạch dưới từ xác định đối tượng miêu tả. - Gạch một nét đứt dưới các từ xác định giới hạn miêu tả. Ví dụ Đề bài Hãy miêu tả một cảnh đẹp nơi em ở vào một mùa trong năm. Học sinh tìm hiểu và phân tích đề bài qua việc trả lời các câu hỏi ?/ Hãy xác định thể loại làm văn? ?/ Đối tượng miêu tả là gì? ?/ Mấy cảnh? Cảnh đó được miêu tả vào thời gian nào ? Thể loại Đối tượng miêu tả Giới hạn miêu tả Miêu tả Cảnh đẹp Không gian Thời gian Đặc điểm Nơi em ở Một mùa trong năm Một cảnh Sau khi trả lời đúng các câu hỏi trên , học sinh thực hành gạch chân trực tiếp trên đề bài. Đề bài Hãy miêu tả một cảnh đẹp nơi em ở vào một mùa trong năm. * Bước 2 Bước quan sát và tìm ý - Tầm quan trọng Là bước quyết định thành công của bài văn, học sinh muốn viết được bài văn hay, sống động phải có được sự quan sát trực tiếp đối tượng miêu tả và phải có sự ghi chép tỉ mỉ, chi tiết những đặc điểm mình miêu tả. - Cách thực hiện Giáo viên cần hướng dẫn học sinh quan sát trực tiếp đối tượng miêu tả nhiều lần và bằng nhiều giác quan khác nhau như thị giác, thính giác, vị giác, khứu giác, xúc giác... nhằm giúp các em nhận biết về cảnh đầy đủ và chính xác hơn. * Luyện kĩ năng quan sát Muốn quan sát có hiệu quả, quan sát phải có tính mục đích, người quan sát phải có cách nghĩ, cách cảm của riêng mình. Quan sát để làm văn nhằm phản ánh một đối tượng cụ thể, vừa chi tiết, vừa có tính khái quát. Qua chi tiết, người đọc phải thấy được bản chất của sự việc. Vì vậy quan sát phải có lựa chọn. Nếu yêu cầu các chi tiết cụ thể nhưng đó không phải là những chi tiết rời rạc, tản mạn, mang tính chất liệt kê. Chi tiết không cần nhiều mà phải chọn lọc, phải tinh. Đó là những chi tiết lột được các thần của cảnh. Khi quan sát, cần sử dụng đồng thời nhiều giác quan và điều quan trọng là phải quan sát bằng tấm lòng. Mục đích quan sát sẽ quy định đối tượng và phương pháp quan sát. Để tả cảnh, cần xác định vị trí quan sát. thời điểm quan sát, trình tự và nội dung quan sát. Quan sát phải luôn gắn với việc tìm ý và tìm từ ngữ để diễn tả. Để giúp quan sát và tìm ý, với mỗi đề bài cần có một hệ thống câu hỏi gợi ý nội dung quan sát và các ý cần xác lập. Nếu học sinh không thực hiện tốt bước quan sát và tìm ý thì học sinh sẽ không có chất liệu để làm văn từ đó học sinh sẽ không có hứng thú làm bài hoặc sao chép bài văn từ những bài văn mẫu. Tuy nhiên , giáo viên cần hướng dẫn học sinh cách ghi chép tỉ mỉ những điều mình quan sát tạo thành một cuốn cẩm nang để khi miêu tả học sinh có sẵn chất liệu để làm bài. Với bất kì một đề bài nào tôi cũng lập bảng quan sát và yêu cầu các en ghi kết quả quan sát vào bảng đó. Mắt thấy Thị giác Tai nghe Thính giác Mũi ngửi Khứu giác Tay cầm Xúc giác * Quan sát theo không gian Vị trí Xa Gần Trên Dưới Trong Ngoài Bên trái Bên phải Đắng sau Đằng trước Quan sát theo thời gian Thời điểm Sáng Trưa Chiều Tối Xuân Hạ Thu Đông Mưa. nắng Ví dụ Khi tả biển quê em. Học sinh quan sát và hoàn thành bảng quan sát như sau Mắt thấy Thị giác - Biển rộng mênh mông, trải dài - Thuyền bè đi lại trên biển tấp nập - Sóng nhấp nhô - Bãi cát trải dài, trắng xoá - Mặt trời, mặt trăng soi báng xuống mặt nước - Mặt biển loang loáng. lấp lánh - Lũ trẻ tắm bơi lội tung tăng - Ánh điện nhà máy tạo thành vết sáng loang loáng. Tai nghe Thính giác - Sóng vỗ rì rào, soàn soạt - Gió thổi bên hàng phi lao rì rầm, xào xạc - Tiếng sóng xô mạn thuyền - Tiếng hát của ngư dân trong đêm trên biển - . Mũi ngửi Khứu giác - Mùi tanh tanh của thuyền no bụng cá - Mùi mặn mà của muối biển..... Tay cầm Xúc giác - Nước mát rượi - Từ những ghi chép quan sát trên thì chắc chắn các em sẽ làm được những bài văn vô cùng sinh động và hấp dẫn. Tuy nhiên quan sát bằng các giác quan chưa đủ mà giáo viên cũng cần phải hướng dẫn học sinh quan sát theo trình tự không gian và thời gian. Ví dụ Biển được quan sát theo trình tự thời gian. Sáng - Mặt trời như chiếc thau đồng đỏ ối nhô lên. - Nước biển màu hồng nhạt. - Sóng đuổi nhau vào bờ tung trắng xoá. - Từng đoàn thuyền đánh cá rẽ màn sóng bạc ra khơi. - Trên bờ cát ,các cụ ông,cụ bà tập thể dục. Trưa - Mặt trời chiếu tia nắng chói chang . - Trời xanh thẳm,nước biển thẳm xanh. - Biển vắng lặng không một bóng người. Chiều - Mặt trời gác trên rặng phi lao. - Lũ trẻ ra biển chơi. Đám con trai thì đá bóng,thả con gái thì xây những lâu đài trên cát. - Chơi xong cả lũ nhảy tòm xuống biển .Biển như dang rộng cánh tay ôm chúng tôi vào lòng. Làn nước mát rượi ngập tràn tâm hồn lũ trẻ. - Đoàn thuyền no bụng cá nối đuôi nhau cập bờ. Tối - Trăng lên, ánh trăng toả xuống mặt biển. - Mặt biển như trải rộng mênh mông, bàng bạc một màu. - Ánh điện Nhà máy Xi măng Nghi Sơn tạo thành vệt sáng lung linh. Xuân Hạ - Biển như một nàng công chúa bước ra từ câu chuyện cổ ồn ào náo nhiệt. Thu - Nước biển dâng cao, mấp mé bờ. - Sóng cuồn cuộn xô vào bờ soàn soạt. Đông Mưa. nắng - Trời nắng, mặt biển lấp lánh như được dát vàng. Nói tóm lại, giáo viên lưu ý cho học sinh khi quan sát một số điểm sau + Khi quan sát học sinh phải nhìn ngắm cảnh trước mặt. + Học sinh phải quan sát nhiều lần, quan sát tỉ mỉ ở nhiều góc độ , nhiều khía cạnh ở thời gian, địa điểm khác nhau. + Khi quan sát học sinh phải tìm ra những nét chính, trọng tâm của cảnh, sẵn sàng bỏ đi những nét thừa không cần thiết Cho nên học sinh không cần điền tất cả các ô gợi ý trên. + Học sinh cần phải tìm được nét tiêu biểu, đặc sắc của cảnh. Phải bộc lộ cảm xúc hứng thú say mê của mình trước đối tượng quan sát. + Học sinh phải tìm được những từ ngữ chính xác, những câu văn ngắn ngọn để ghi lại những gì quan sát được . * Bước 3. Sắp xếp ý và lập dàn ý - Sau khi quan sát và tìm ý , truớc khi lập dàn bài chi tiết, học sinh cần xác định trình tự miêu tả để sắp xếp các ý một cách hợp lí. Trình tự miêu tả trong văn tả cảnh có thể là trình tự không gian, có thể là trình tự thời gian tuỳ theo từng cảnh để lựa chọn cho phù hợp. Ví dụ Với bài tả khu vườn vào buổi sáng, ta nên chọn trình tự không gian. + Trước cửa vườn + Giữa vườn + Góc vườn bên trái + Góc vườn bên phải + Cuối vườn Tuy nhiên, ta vẫn có thể chọn trình tự thời gian + Khoảng trời phía đông ửng hồng + Mặt trời bắt đầu nhô lên sau rặng tre. + Khi ánh nắng ban mai bắt đầu toả xuống... + Mặt trời lên cao. Lập dàn ý. Do nội dung chương trình trong sách giáo khoa phân bố thì học sinh luyện viết các đoạn văn tả cảnh rất nhiều. Những bài văn tả cảnh hoàn chỉnh chỉ yêu cầu thực hiện trong các tiết kiểm tra. Chính vì thế, tôi đưa dàn ý chung cho một bài văn tả cảnh, và cả dàn ý cho một đoạn văn tả cảnh để học sinh dựa vào đó viết. + Dàn ý chung cho một bài văn tả cảnh cụ thể như sau Bố cục Dàn bài 1. Mở bài - Giới thiệu cảnh định tả 2. Thân bài * Tả bao quát * Tả chi tiết + Tả từng bộ phận của cảnh Nếu lựa chọn trình tự không gian + Tả cảnh theo sự thay đổi của thời gian nếu lựa chọn theo trình tự không gian. * Lưu ý - Có thể kết hợp cả hai trình tự. - Lồng ghép tình cảm, cảm xúc và nhận xét đánh giá về cảnh trong quá trình miêu tả. - Kết hợp tả hoạt động của người song chỉ lướt qua để tránh nhầm sang dạng bài tả cảnh sinh hoạt. 3. Kết bài + Nêu nhận xét, đánh giá +Tình cảm + Hành động + Dàn ý chung cho yêu cầu viết một đoạn văn. Mở đoạn Giới thiệu cảnh sẽ tả Thân đoạn Tả chi tiết những đặc điểm nổi bật của cảnh Kết đoạn Nêu tình cảm, nhận xét đánh giá về cảnh. Sau khi có trong tay dàn ý chung cho cho bài văn, học sinh sẽ áp dụng để lập dàn ý chi tiết. Dàn ý này cũng chính là cái sườn sát nhất cho học sinh viết thành bài văn cụ thể. Ví dụ + Dàn ý cho bài văn tả cảnh khu vườn vào một buổi sáng theo trình tự không gian Bố cục Dàn ý chi tiết bài - Khu vườn vào buổi sáng thật đẹp 2. Thân bài Bao quát Khi nắng ban mai vàng như mật ong chiếu xuống, khu vườn như bừng tỉnh sau một đêm tắm sương. + Trước vườn - Nàng Hồng măng trên mình hạt sương long lanh đang e lệ trong lá. - Cánh hoa đỏ thắm mịn màng, khum khum úp sát vào nhau. - Nàng Cúc cũng thay cho mình bộ váy vàng rực rỡ để chờ đón anh ong bước đến chơi. - Các nàng thi nhau toả hương làm cả một khoảng không gian thơm mát. + Giữa vườn - Hai hàng rau cải xanh mơn mởn chen nhau mọc. - Những lá cải to bản thi nhau vươn cao hứng ánh nắng vàng óng. + Góc bên trái - Cây bưởi nặng nhọc mang trên mình những trái bưởi tròn lông lốc. - Lũ sơn ca, hoạ mi ngủ đêm trên cành đang bay nhảy, cất tiếng hát véo von chào buổi sáng. + Góc bên phải - Mấy anh ớt đỏ gầy leo kheo đã tỉnh giấc. - Anh ngả nghiêng vặn mình trong gió + Cuối vườn - Mẹ con bác chuối lục đục gọi nhau dậy tập thể dục. - Những cánh tay to bản giơ cao phần phật trong gió - Mấy đứa chuối con thấy chuối mẹ tập vỗ tay reo vui làm chút sương cuối cùng rơi vội xuống đất. 3. Kết bài - Nhìn cảnh khu vườn vào buổi sáng mới thấy được vẻ đẹp và sức sống mãnh liệt của cây cối nơi đây. Lưu ý Mỗi một ô của dàn bài chi tiết sẽ tạo thành một đoạn văn khi làm bài. Tuy vậy, tùy vào nội dung và khả năng mà các em có thể điều chỉnh thêm, bớt số đoạn cho phù hợp. Bước 4 Tạo bài văn Đây là giai đoạn quan trọng nhất và cũng là khâu khó nhất, đòi hỏi học sinh phải linh hoạt vận dụng nhiều kiến thức để làm. Học sinh phải biết + Dùng từ, đặt câu, dựng đoạn + Vận dụng phong cách ngôn ngữ văn bản + Bám sát dàn bài để viết thành bài văn hoàn chỉnh. Muốn học sinh làm tốt bước này, giáo viên cần hướng dẫn học sinh thực hiện theo
Sáng kiến kinh nghiệm lớp 5 là một bài vô cùng quan trọng trong quá trình giảng dạy của các giáo viên tiêu học. Bài sáng kiến kinh nghiệm lớp 5 mang ý nghĩa nghiên cứu và tìm ra những phương pháp dạy trẻ tiểu học sáng tạo, mới mẻ và hiệu quả nhất mà các giáo viên cần thực hiện. Trong bài viết dưới đây, 123doc sẽ tổng hợp top 10 bài sáng kiến kinh nghiệm lớp 5 hay nhất của các giáo viên để các bạn có thể tìm đọc và tham khảo. I. Top 10 bài sáng kiến kinh nghiệm lớp 51. Sáng kiến kinh nghiệm lớp 52. Sang kien kinh nghiem Lop 5 3. Sáng kiến kinh nghiệm lớp 5 4. Sáng kiến kinh nghiệm Lớp 5 5. Sáng kiến kinh nghiệm lớp 5toán 6. SANG KIEN KINH NGHIEM LOP 5 7. SKKN sáng kiến kinh nghiệm tiểu học tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường trong môn khoa học lớp 5 8. SKKN sáng kiến kinh nghiệm tiểu học bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học cho học sinh lớp 5 qua phân môn tập đọc 9. SKKN sáng kiến kinh nghiệm tiểu học bồi dưỡng năng lực CTVH cho học sinh lớp 4 5 thông qua dạy học tập làm văn10. SKKN LOP 5 II. Cách làm một bài sáng kiến kinh nghiệm lớp 51. Các bước chuẩn bị để làm một bài sáng kiến kinh nghiệm lớp 52. Cấu trúc một bài sáng kiến kinh nghiệm lớp 5III. Những lưu ý khi viết bài sáng kiến kinh nghiệm lớp 5BÀI VIẾT CÙNG CHỦ ĐỀ 1. Sáng kiến kinh nghiệm lớp 5 Dưới đây là tài liệu bài sáng kiến kinh nghiệm mang tên “Sáng kiến kinh nghiệm lớp 5”. Sáng kiến kinh nghiệm này đưa ra một cách thức giạng dạy cho học sinh môn học một các sáng tạo, linh hoạt với phương pháp mới mẻ, tích cực và đạt được hiệu quả cao. Các bạn có thể tham khảo chi tiết nội dung của bài sáng kiến kinh nghiệm dưới đây để có thêm kinh nghiệm và kiến thức. Sáng kiến kinh nghiệm lớp 5 Download tài liệu 2. Sang kien kinh nghiem Lop 5 Bài sáng kiến kinh nghiệm lớp 5 dưới đây được tác giả trình bày vô cùng khoa học, chi tiết và cụ thể. Bài đã cung cấp cho độc giả những kiến thức khoa học, chính xác và độc đáo, mới lạ, hấp dẫn về cách thức dạy học lớp 5 tiểu học giúp cho học sinh hứng thú và đạt được hiệu quả giảng dạy cao. Mời các bạn tham khảo chi tiết bài sáng kiến dưới đây. Sang kien kinh nghiem Lop 5 Download tài liệu 3. Sáng kiến kinh nghiệm lớp 5 Dưới đây là tài liệu bài sáng kiến kinh nghiệm mang tên “Sáng kiến kinh nghiệm lớp 5”. Sáng kiến kinh nghiệm này đưa ra một cách thức giạng dạy cho học sinh môn học một các sáng tạo, linh hoạt với phương pháp mới mẻ, tích cực và đạt được hiệu quả cao. Các bạn có thể tham khảo chi tiết nội dung của bài sáng kiến kinh nghiệm dưới đây để có thêm kinh nghiệm và kiến thức. áng kiến kinh nghiệm lớp 5 Download tài liệu 4. Sáng kiến kinh nghiệm Lớp 5 Bài sáng kiến kinh nghiệm lớp 5 dưới đây được tác giả trình bày vô cùng khoa học, chi tiết và cụ thể. Bài đã cung cấp cho độc giả những kiến thức khoa học, chính xác và độc đáo, mới lạ, hấp dẫn về cách thức dạy học lớp 5 tiểu học giúp cho học sinh hứng thú và đạt được hiệu quả giảng dạy cao. Mời các bạn tham khảo chi tiết bài sáng kiến dưới đây. Sáng kiến kinh nghiệm Lớp 5 Download tài liệu 5. Sáng kiến kinh nghiệm lớp 5toán Dưới đây là tài liệu bài sáng kiến kinh nghiệm mang tên “Sáng kiến kinh nghiệm lớp 5toán “. Sáng kiến kinh nghiệm này đưa ra một cách thức giạng dạy cho học sinh môn học một các sáng tạo, linh hoạt với phương pháp mới mẻ, tích cực và đạt được hiệu quả cao. Các bạn có thể tham khảo chi tiết nội dung của bài sáng kiến kinh nghiệm dưới đây để có thêm kinh nghiệm và kiến thức. Sáng kiến kinh nghiệm lớp 5toán Download tài liệu 6. SANG KIEN KINH NGHIEM LOP 5 Bài sáng kiến kinh nghiệm lớp 5 dưới đây được tác giả trình bày vô cùng khoa học, chi tiết và cụ thể. Bài đã cung cấp cho độc giả những kiến thức khoa học, chính xác và độc đáo, mới lạ, hấp dẫn về cách thức dạy học lớp 5 tiểu học giúp cho học sinh hứng thú và đạt được hiệu quả giảng dạy cao. Mời các bạn tham khảo chi tiết bài sáng kiến dưới đây. SANG KIEN KINH NGHIEM LOP 5 Download tài liệu 7. SKKN sáng kiến kinh nghiệm tiểu học tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường trong môn khoa học lớp 5 Dưới đây là tài liệu bài sáng kiến kinh nghiệm mang tên “SKKN sáng kiến kinh nghiệm tiểu học tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường trong môn khoa học lớp 5 “. Sáng kiến kinh nghiệm này đưa ra một cách thức giạng dạy cho học sinh môn học một các sáng tạo, linh hoạt với phương pháp mới mẻ, tích cực và đạt được hiệu quả cao. Các bạn có thể tham khảo chi tiết nội dung của bài sáng kiến kinh nghiệm dưới đây để có thêm kinh nghiệm và kiến thức. SKKN sáng kiến kinh nghiệm tiểu học tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường trong môn khoa học lớp 5 Download tài liệu 8. SKKN sáng kiến kinh nghiệm tiểu học bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học cho học sinh lớp 5 qua phân môn tập đọc Bài sáng kiến kinh nghiệm lớp 5 dưới đây được tác giả trình bày vô cùng khoa học, chi tiết và cụ thể. Bài đã cung cấp cho độc giả những kiến thức khoa học, chính xác và độc đáo, mới lạ, hấp dẫn về cách thức dạy học lớp 5 tiểu học giúp cho học sinh hứng thú và đạt được hiệu quả giảng dạy cao. Mời các bạn tham khảo chi tiết bài sáng kiến dưới đây. SKKN sáng kiến kinh nghiệm tiểu học bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học cho học sinh lớp 5 qua phân môn tập đọc Download tài liệu 9. SKKN sáng kiến kinh nghiệm tiểu học bồi dưỡng năng lực CTVH cho học sinh lớp 4 5 thông qua dạy học tập làm văn Dưới đây là tài liệu bài sáng kiến kinh nghiệm mang tên “SKKN sáng kiến kinh nghiệm tiểu học bồi dưỡng năng lực CTVH cho học sinh lớp 4 5 thông qua dạy học tập làm văn”. Sáng kiến kinh nghiệm này đưa ra một cách thức giạng dạy cho học sinh môn học một các sáng tạo, linh hoạt với phương pháp mới mẻ, tích cực và đạt được hiệu quả cao. Các bạn có thể tham khảo chi tiết nội dung của bài sáng kiến kinh nghiệm dưới đây để có thêm kinh nghiệm và kiến thức. SKKN sáng kiến kinh nghiệm tiểu học bồi dưỡng năng lực CTVH cho học sinh lớp 4 5 thông qua dạy học tập làm văn Download tài liệu 10. SKKN LOP 5 Bài sáng kiến kinh nghiệm lớp 5 dưới đây được tác giả trình bày vô cùng khoa học, chi tiết và cụ thể. Bài đã cung cấp cho độc giả những kiến thức khoa học, chính xác và độc đáo, mới lạ, hấp dẫn về cách thức dạy học lớp 5 tiểu học giúp cho học sinh hứng thú và đạt được hiệu quả giảng dạy cao. Mời các bạn tham khảo chi tiết bài sáng kiến dưới đây. SKKN LOP 5 Download tài liệu 100+ Tài liệu sáng kiến kinh nghiệm lớp 5 hay Đọc thêm Top 10 luận văn thạc sĩ giáo dục học không thể bỏ qua 10+ Báo cáo thực tập cây trồng hay không thể bỏ qua II. Cách làm một bài sáng kiến kinh nghiệm lớp 5 1. Các bước chuẩn bị để làm một bài sáng kiến kinh nghiệm lớp 5 Chọn đề tài Đề tài sáng kiến kinh nghiệm là vấn đề khoa học chứa đựng những thông tin, nội dung mới chưa được phát hiện trước đó. Đề tài sáng kiến kinh nghiệm mầm non cần có giá trị thực tiễn, giải quyết vấn đề từ thực tế công tác, thúc đẩy phát triển sự nghiệp giáo dục, quản lý giáo dục. Trang bị cơ sở lý luận Thu thập các tài liệu, sáng kiến kinh nghiệm liên quan đến đề tài sáng kiến kinh nghiệm của mình. Sau đó nghiên cứu, phân tích về lý luận, về phương pháp luận, về kết quả đạt được… Phục vụ cho đề tài sáng kiến của bản thân. Thu thập tài liệu Tác giả cần tìm kiếm tư liệu, số liệu, điều kiện thuận lợi, khó khăn về tình hình thực tế của đơn vị khi chưa áp dụng sáng kiến kinh nghiệm. Thu thập tư liệu, số liệu thực tế trong quá trình áp dụng sáng kiến kinh nghiệm để làm sáng tỏ, hiệu quả biến đổi trong hoạt động giáo dục. Phân tích, xử lý số liệu Phân tích những biến chuyển tích cực từ việc áp dụng sáng kiến đến hoạt động giáo dục mầm non. Từ đó rút ra bài học kinh nghiệm. 2. Cấu trúc một bài sáng kiến kinh nghiệm lớp 5 Một bài sáng kiến kinh nghiệm cần được làm cụ thể, chi tiết và trình bày khoa học, nội dung tập trung vào chương trình học của học sinh. Cấu trúc cụ thể của một bài sáng kiến kinh nghiệm gồm các phần như sau A. Phần mở đầu Phần mở đầu của bài sáng kiến kinh nghiệm cần được trình bày ngắn gọn, súc tích những nội dung sau đây Lý do chọn đề tài Mục đích nghiên cứu Nhiệm vụ nghiên cứu Đối tượng, phạm vi nghiên cứu Phương pháp nghiên cứu B. Phần nội dung Phần nội dung của một bài sáng kiến kinh nghiệm cần đi sâu vào tìm hiểu và trình bày một cách cụ thể, chi tiết và sâu kỹ những nội dung sau Cơ sở lý luận Cơ sở thực tiễn Các biện pháp nghiên cứu C. Kết quả và ứng dụng Kết quả Kết quả, những thành tựu thu được từ sáng kiến đề ra, tác động tới quá trình phát triển so với thời gian quá trình đầu Ứng dụng Phạm vi ứng dụng và tác động của sáng kiến đối với những vùng phạm vi cụ thể. D. Kết luận và kiến nghị Phần kết luận Nêu cụ thể ý nghĩa của sáng kiến kinh nghiệm đối với việc giảng dạy thực tiễn Nêu bài học kinh nghiệm rút ra sau bài sáng kiến kinh nghiệm Phần kiến nghị Kiến nghị đối với Phòng GD&ĐT; Kiến nghị đối với nhà trường – nơi công tác Đọc thêm Những mẫu báo cáo thực tập tại trạm y tế xã mới nhất năm 2020 không thể bỏ qua Top 11 mẫu báo cáo thực tập Dược lâm sàng tại bệnh viện hot nhất năm 2020 III. Những lưu ý khi viết bài sáng kiến kinh nghiệm lớp 5 Một bài sáng kiến kinh nghiệm được soạn thảo và in trên máy vi tính, trang trí khoa học, in 01 mặt trên khổ giấy A4 Font Unicode kiểu chữ Times New Roman; cỡ chữ 14, định lề trên 2cm, lề dưới 2cm, lề trái 3 cm, lề phải 2,0 cm, dòng cách dòng 1,2 lines; Số trang/tổng số trang được đánh ở giữa và được đóng thành tập có bìa cứng có tối đa 15 trang. Trang bìa được trình bày cẩn thận với nội dung nằm trong đường kẻ khung chân phương. Tên cơ quan chủ quản và tên trường; các mục, tên đề tài, tên địa danh căn giữa. Tên tác giả, chức vụ, tên đơn vị công tác căn trái. Phần mục lục gồm các mục và tiêu mục cần được sắp xếp khoa học, theo thứ tự logic, trình bày dễ nhìn và đánh số chính xác. Đọc thêm 10 Mẫu luận văn thạc sĩ nông nghiệp được đánh giá cao Tham khảo 10 mẫu luận văn, báo cáo tốt nghiệp kinh tế hay nhất Bài viết trên đây đã tổng hợp top những bài sáng kiến kinh nghiệm lớp 5 hay và chính xác, đầy đủ nhất để các giáo viên có thể tìm đọc, tham khảo. Hy vọng rằng bài viết này đã giúp ích được các giáo viên trên con đường giảng dạy, thực hiện các đề tài sáng kiến kinh nghiệm và đạt được nhiều thành công.
sáng kiến kinh nghiệm tập làm văn lớp 5