sự tích tết trung thu việt nam

Sự tích huyền bí của Tết Trung thu. 20/09/21 08:54 GMT+7 5 liên quan Gốc. Từ xa xưa, Trung thu mang ý nghĩa đó là ngày trăng sáng nhất, mọi người ra khỏi nơi cư trú để giao lưu, nhảy múa, hát ca, gia tăng tinh thần cộng đồng. Từ khi trở thành lễ hội, Trung thu mang nhiều ý nghĩa Một số ý kiến cho rằng, nhiều nước bị mắc kẹt vào "bẫy thu nhập trung bình" hoặc chững lại khoảng 20-40 năm ở mức thu nhập trung bình và chậm tiến đến mức thu nhập cao. Việt Nam vươn lên trở thành quốc gia có mức thu nhập trung bình cùng thời điểm với sự phát Phim hoạt hình Cổ Tích Việt Nam 3D: SỰ TÍCH TẾT TRUNG THU - đầu tiên của Việt Nam ⭐🌠 Người lớn uống trà, thưởng trăng, bọn trẻ con phá cỗ tay cầm Sự tích tết trung thu là những câu chuyện vô cùng ý nghĩa, được truyền lại nhiều thế hệ. Chuẩn bị kỹ lưỡng, cúng như cách phá cỗ trung thu cho dịp rằm trung thuthêm hoàn hảo cũng rất cần thiết. Một trong những nét đẹp truyền thống của người Việt là tết trung thu Kỳ vọng qua bài viết này, các bạn đã hiểu thêm về sự tích Tết Trung thu ở Việt Nam cũng như hiểu được ý nghĩa của ngày lễ đặc thù này. Để tìm hiểu thêm nhiều thông tin thú vị về Tết Trung thu, hãy thường xuyên ghé thăm cungdaythang.com nhé! Tục ᴠui Tết Trung-Thu đã có từ thời Đường Minh Hoàng bên Trung-Hoa, ᴠào đầu thế kỷ thứ tám (713-755). Về ѕau được lan rộng ra các nước láng giềng ᴠà thuộc địa của Trung Hoa. Tại Việt Nam ѕử ѕách không nói rõ dân ta bắt đầu tổ chức Tết trung thu từ bao giờ Vay Tiền Cấp Tốc Online. Tết Trung Thu luôn là dịp đặc biệt để các gia đình cùng nhau trải qua những giây phút quây quần bên nhau. Vậy nguồn gốc Tết Trung Thu như thế nào? Sau đây là 4 truyện về sự tích Tết Trung Thu ở Việt Nam ý nghĩa dành tặng bé. Cùng khám phá nhé! 1. Sự tích Tết Trung Thu ở Việt Sự tích Tết Trung Thu Sự tích Tết Trung Thu Sự tích Tết Trung Thu Sự tích bánh Trung Thu2. Ý nghĩa của Tết Trung Thu Tết Trung thu được coi là một trong những lễ hội cổ truyền của Việt Nam. Tuy nhiên nguồn gốc của Tết Trung Thu thì không phải ai cũng biết. Có rất nhiều truyền thuyết về ngày Tết Trung Thu được lưu truyền ở Việt Nam. Trong đó có 4 sự tích Tết Trung Thu Việt Nam phổ biến nhất. Cụ thể Sự tích Tết Trung Thu 1 Sự tích ngày Tết Trung Thu đầu tiên này bắt nguồn từ Trung Quốc. Theo sách cổ viết, ngày Tết Trung Thu bắt nguồn từ thời vua Duệ Tôn nhà Đường. Nhân một ngày rằm tháng 8 âm lịch trăng tròn đẹp, nhà vua đang đi dạo vườn Thượng Uyển và gặp pháp sư Diệu Pháp Tiên. Vị pháp sư này có phép thần thông đã giúp nhà vua lên cung trăng như ước nguyện. Vấn vương cảnh đẹp cung trăng cũng như những điệu múa tuyệt đẹp của các tiên nga, sau khi trở lại nhân gian, nhà vua đã yêu cầu các nghệ nhân sáng tác ra khúc Nghê Thường Vũ Y được xem trên cung trăng hôm nào. Sau đó, cứ đến ngày rằm tháng 8, nhà vua cho phép người dân rước đèn, bày cỗ để ngắm trăng nhằm hoài niệm ngày đặc biệt được thưởng ngoạn cung trăng. Sau đó, ngày Tết Trung Thu dần dần lan sang thuộc địa và các nước láng giềng của Trung Hoa. Sự tích đầu tiên về ngày Tết đầu tiên Nguồn Sự tích Tết Trung Thu 2 Sự tích Tết Trung Thu thứ 2 liên quan đến Hậu Nghệ – Hằng Nga. Truyện kể là, có một người đôi vợ chồng sống ở Thiên Đình tên là Hậu Nghệ và Hằng Nga. Hậu Nghệ bất tử còn Hằng Nga là tiên nữ cực kỳ xinh đẹp, phục vụ Tây Vương Mẫu. Hằng Nga và Hậu Nghệ bị đố kỵ ghen ghét lớn từ người khác vì sự bất tử và xinh đẹp. Do đó, Hậu Nghệ bị vu oan phạm tội thiên đình trước mặt Vua Nghiêu. Hai vợ chồng bị đuổi khỏi hoàng công, và bị ép phải sống cuộc sống thường dân ở dân gian. Nhờ tài năng của mình, Hậu Nghệ nhanh chóng trở thành một xạ thủ có tiếng. Thời bấy giờ, có tới 10 mặt trời tồn tại cùng một lúc. Mỗi một ngày sẽ có 1 mặt trời chiếu rọi thay phiên nhau. Tuy nhiên, một ngày kia 10 mặt trời đột nhiên cùng xuất hiện một ngày. Nó thiêu cháy hết sinh linh. Trước hoàn cảnh khó khăn ấy, Hậu Nghệ được Vua Nghiêu sai bắn 9 mặt trời. Với tài nghệ của mình, Hậu Nghệ hoàn thành nhiệm vụ một cách dễ dàng. Và để trả ơn Hậu Nghệ, Vua Nghiêu đã tặng cho chàng một viên thuốc trường sinh bất lão và căn dặn rất rõ là khi nào ăn chay, cầu nguyện một năm mới được uống. Nghe lời Vua Nghiêu, Hậu Nghệ đem thuốc về nhau và giấu trên nóc nhà. Nhân một ngày Hậu Nghệ được mời lên kinh thành chơi, Hằng Nga thấy viên thuốc và đã uống ngay lập tức. Và tức thì, Hằng Nga bay về trời trước mắt Hậu Nghệ vừa trở về nhà. Dù cố gắng đuổi theo, Hậu Nghệ không thể vượt qua thần Gió – kẻ cản trở chàng đuổi theo người vợ xinh đẹp. Hằng Nga bay một mạch lên mặt trăng và nôn viên thuốc ra, không thể trở lại nhân gian được nữa. Hai người ngày đêm nhớ thương nhau. Hậu Nghệ xây lâu đài trong mặt trời, đặt tên là “Dương”. Còn Hằng Nga xây một lâu đài trên mặt trăng, đặt tên là “Âm”. Cứ mỗi năm rằm tháng 8 âm lịch, Hằng Nga và Hậu Nghệ đoàn viên với nhau trong niềm hạnh phúc vô hạn. Truyền thuyết về ngày Tết Trung Thu này khá phổ biến vào thời Tây Hán những năm 206 – 24 Trước Công nguyên. Sự tích Hằng Nga – Hậu Nghệ cho Tết Trung Thu Nguồn Sự tích Tết Trung Thu 3 Ngoài ra, còn có một sự tích về ngày Tết Trung Thu khác liên quan đến Hằng Nga và Hậu Nghệ. Truyện kể là, hai người đều là thần bất tử ở thiên đình. Một ngày nọ, con trai thứ 10 của Ngọc Hoàng phân thân tạo thành 10 mặt trời gây ra thảm kịch cho sinh linh dưới dân gian. Trước tình hình này, Hậu Nghệ dùng tài bắn tên xuất thần của mình đã bắn rơi 9 mặt trời và tha chết cho mặt trời thứ 10 – bản thể cuối cùng của con trai Ngọc Hoàng. Và Ngọc Hoàng không chấp nhận việc này nên đày Hậu Nghệ, Hằng Nga xuống nhân gian làm người phàm. Quá nuối tiếc cuộc sống bất tử, Hậu Nghệ bỏ nhà ra đi để tìm thứ thuốc trường sinh bất lão cho mình. Cuối cùng, chàng gặp được Tây Vương Mẫu và được cho linh dược. Bà căn dặn Hậu Nghệ chỉ nên uống một nửa viên thuốc. Đem thuốc về nhà, Hậu Nghệ cẩn thận bỏ trong chiếc lọ và dặn Hằng Nga không mở lọ ra. Sau đó, chàng đi săn vài tháng. Sự tò mò khiến Hằng Nga đã lén Hậu Nghệ mở lọ. Nhìn thấy viên thuốc, Hằng Nga uống hết viên thuốc linh dược. Hậu quả là Hằng Nga bay về mặt trăng và không thể nào trở lại. Từ đó, Hậu Nghệ và Hằng Nga chia cách nhau kẻ ở dân gian và người ở mặt trăng, mãi mãi chia lìa. Phiên bản khác của sự tích ngày Tết Trung Thu liên quan đến Hậu Nghệ, Hằng Nga Nguồn Sự tích bánh Trung Thu Sau khi tìm hiểu 3 sự tích ngày Tết Trung Thu, chúng ta sẽ tìm hiểu về sự tích bánh Trung Thu. Bánh Trung Thu còn có tên gọi là Bánh Trăng, Bánh Hồ, bánh đoàn viên … Bánh Nguyệt là loại bánh có lịch sử lâu dài tại Trung Quốc. Theo sử sách ghi chép, vào thời Ân, Chu tại vùng Triết Gian, có một loại bánh kỷ niệm vị Thái Sư Văn Trọng, được gọi là bánh Thái Sư – được coi là gốc gác của bánh Trung Thu ngày nay. Vào thời Tây Hán, một người tên Trương Thiên đi sang Tây Vực và mang về Trung Quốc hạt hồ đào, hạt mè, hạt dưa hấu để làm nguyên liệu bánh hồ đào dồi dào. Đến thời Đường, có nhiều người hành nghề làm bánh. Vào một đêm Trung thu nọ, Đường Huyền Tông cùng Dương Quý Phi ăn bánh hồ đào và thưởng ngoạn đêm trăng. Nhà vua chê bánh hồ đào có tên không hay nên đã đặt cho bánh tên mới là bánh Nguyệt. Đến thời Tống, tập tục ăn bánh Nguyệt bánh Trung Thu trở nên thịnh hành và phổ biến trong giới quý tộc. Và dần dần, loại bánh này trở thành phổ cập cùng các câu chuyện sự tích ngày Tết Trung Thu lưu truyền ở dân gian. Bánh trung thu ngày càng phong phú nhiều loại hơn, nhưng là bánh ngon thì phải đạt 8 tiêu chí chọn lựa bánh trung thu khi so sánh. Ngày nay, mua bánh Trung Thu là phong tục hết sức quen thuộc của người dân các nước, trong đó có Việt Nam. Sự tích bánh trung thu Nguồn 2. Ý nghĩa của Tết Trung Thu Có thể thấy, qua các sự tích của Tết Trung Thu được kể trên đây, ngày Tết Trung Thu có ý nghĩa đoàn viên. Nó là dịp đặc biệt để các thành viên gia đình sum vầy, hàn huyên, thưởng thức bánh trung thu, rước đèn và phá cỗ đêm trăng cùng nhau. Ngoài ra, nó còn là dịp người lớn mua đồ chơi dân gian mang đậm văn hóa Việt cho trẻ con, cùng tạo ra những kỷ niệm tuổi thơ đáng nhớ cho các bé. Không ngoại lệ, Tết Trung Thu sắp đến, các gia đình cần chuẩn bị bánh trung thu ngon dẻo mềm, chọn mua hoa quả tươi theo mùa vụ, lồng đèn và quà tặng cho bé dịp Tết Trung Thu trên Adayroi để có thể lựa chọn được những thức quà chất lượng tốt nhất với giá cả và chính sách bán hàng hấp dẫn nhất. Đặc biệt, khi mua tại Adayroi, bạn được hỗ trợ giao hàng tận nhà – vô cùng thuận tiện cho những người không có nhiều thời gian, quá bận rộn. Trên đây là 4 truyện sự tích Tết Trung thu ý nghĩa được truyền miệng trong dân gian. Sắm mâm cỗ Trung Thu truyền thống tại Adayroi vui đón trăng rằm nhận ưu đãi đặc biệt nhé. Xem thêm một số bài viết về 4 Sự tích Tết Trung Thu ở Việt Nam ý nghĩa để kể cho bé ngày rằm Tết Trung Thu diễn ra vào ngày 15 của tháng 8 trong Âm Lịch và đã có từ ngàn năm nay, đây là thời gian mặt trăng tròn nhất và sáng nhất, đây cũng là thời gian người Châu Á thu hoạch xong mùa vụ và bắt đầu tổ chức những lễ hội mà tiêu biểu trong đó là lễ hội trăng rằm. Món ăn được người Á Đông lưu tâm nhất trong mùa lễ hội này đó là Bánh Trung Thu, với rất nhiều hương vị khác nhau và thường được thưởng thức với trà, thường là trà đặc. Hôm nay Palamun Event xin chia sẻ cùng bạn đọc Sự tích và cội nguồn của Tết Trung Thu huyền thoại đầy ý nghĩa nhé Contents1 Cội nguồn và ý nghĩa của Tết Trung Thu huyền thoại2 Tết Trung Thu ở Việt Nam bắt nguồn từ đâu?3 Sự tích Tết trung thu huyền bí đối với các nhà Sử học4 Tết Trung Thu ở các nước Châu Á có gì đặc sắc?5 Video Phim hoạt hình 3D SỰ TÍCH TẾT TRUNG THU ”Đầu tiên của Việt Nam”6 Lời kết sự tích Tết Trung Thu và ý nghĩa thiết thực ngày nay Cội nguồn và ý nghĩa của Tết Trung Thu huyền thoại Ý nghĩa của Tết Trung Thu huyền thoại bắt nguồn từ đâu? Nhiều người bảo rằng tết Trung Thu của Việt Nam có nguồn gốc từ Trung Quốc nhưng trên thực tế khi đi vào những giai thoại thì người Việt Nam và Trung Quốc đều có những nguồn gốc về tết trung thu khác nhau. Nếu như Trung thu của người Trung Quốc nhắc đến chuyện tình của Hằng Nga và Hậu Nghệ thì ở Việt Nam lại thêu dệt nên câu chuyện về chú Cuội và chị Hằng. Hay từ câu chuyện lịch sử Trung Quốc thời nhà Đường, nguồn gốc của Tết Trung thu gắn liền với nàng Dương Qúy Phi. Nàng là một trong tứ đại mỹ nhân làm nên giai thoại đất nước Trung Hoa bấy giờ. Cũng chính vì vẻ đẹp nghiêng nước nghiêng thành mà bị triều thần cho rằng nàng mê hoặc nhà vua Đường Huyền Tông chìm đắm trong tửu sắc bỏ bê triều chính. Đường Huyền Tông buộc phải ban phát cho sủng phi của mình dải lụa trắng để củng cố triều đình trong niềm tiếc thương vô hạn. Vì niềm thương tiếc khôn nguôi ấy đã làm lay động các tiên nữ, vào đêm trăng sáng nhất của mùa thu, vua đã được đưa lên trời gặp lại Dương Qúy Phi. Sau khi về trần gian ông đặt ra Tết Trung thu để tưởng nhớ đến vị sủng phi của mình. Còn ở Việt Nam,Tết Trung Thu tại Việt Nam không biết có tự bao giờ, không có sử liệu nào nói rõ về gốc tích của ngày lễ rằm tháng Tám. Nhiều người cho rằng đây là một nét văn hóa du nhập từ Trung Quốc trong thời gian Việt Nam bị phương Bắc đô hộ. Tuy nhiên, có tài liệu ghi chép lại rằng, Tết Trung thu được tổ chức dưới thời nhà Lý tại kinh thành Thăng Long. Là dịp mà vua Lý muốn tạ ơn thần Rồng đã mang mưa tới cho mùa màng bội thu, cho con dân ấm no. Tết Trung Thu ở Việt Nam bắt nguồn từ đâu? Từ xa xưa, ở Á Đông người ta đã coi trọng Mặt Trăng và Mặt Trời, coi như một cặp vợ chồng Theo các nhà khảo cổ học thì Tết Trung Thu ở Việt Nam có từ thời xa xưa, đã được in trên mặt trống đồng Ngọc Lũ. Còn theo văn bia chùa Đọi năm 1121 thì từ đời nhà Lý, Tết Trung Thu đã được chính thức tổ chức ở kinh thành Thăng Long với các hội đua thuyền, múa rối nước và rước đèn. Đến đời Lê – Trịnh thì Tết Trung Thu đã được tổ chức cực kỳ xa hoa trong phủ Chúa. Nghiên cứu về nguồn gốc Tết Trung Thu, theo học giả trong Magiet Religion, Paris, 1912 thì từ xa xưa, ở Á Đông người ta đã coi trọng Mặt Trăng và Mặt Trời, coi như một cặp vợ chồng. Họ quan niệm Mặt Trăng chỉ sum họp với Mặt Trời một lần mỗi tháng vào cuối tuần trăng. Sau đó, từ ánh sáng của chồng, nàng trăng mãn nguyện đi ra và dần dần nhận được ánh dương quang – trở thành trăng non, trăng tròn, để rồi lại đi sang một chu kỳ mới. Do vậy, trăng là âm tính, chỉ về nữ và đời sống vợ chồng. Và ngày Rằm tháng Tám, nàng trăng đẹp nhất, lộng lẫy nhất, nên dân gian làm lễ mở hội ăn Tết mừng trăng. Còn theo sách “Thái Bình hoàn vũ ký” thì “Người Lạc Việt cứ mùa Thu tháng Tám thì mở hội, trai gái giao duyên, ưng ý nhau thì lấy nhau”. Như vậy, mùa Thu là mùa của thành hôn. Sự tích Tết trung thu huyền bí đối với các nhà Sử học Truyền thuyết ngày tết trung thu luôn lôi cuốn tò mò với trần gian Một truyền thuyết khác đã cho rằng Hằng Nga và Hậu Nghệ đều là những vị thần bất tử sống trên thiên đình. Một ngày kia, người con trai thứ 10 của Ngọc Hoàng đã phân thân thành mười mặt trời từ đó gây nên thảm kịch cho loài người. Trước tình hình đó, Hậu Nghệ, với tài bắn tên của mình đã bắn rơi 9 mặt trời nhưng vì tình cảm, đã tha chết cho bản thể thứ 10 của con trai của Ngọc Hoàng. Dĩ nhiên, Ngọc Hoàng không chấp nhận và rất phật ý. Ông ta đã trừng phạt Hậu Nghệ và Hằng Nga bằng cách bắt họ phải sống cuộc đời con người ở trần thế. Sau khi xuống trần thế, hối tiếc cuộc sống bất tử đã qua, Hậu Nghệ đã bỏ nhà ra đi tìm thứ thuốc có thể trường sinh bất lão. Cuối cùng, chàng tìm thấy Tây Vương Mẫu, bà đã cho Hậu Nghệ linh dược, nhưng dặn rằng mỗi người chỉ nên uống nửa viên để có được sự sống trường tồn. Hậu Nghệ đem viên thuốc về nhà và để nó trong một chiếc lọ. Chàng đã cảnh báo Hằng Nga không được mở chiếc lọ ra để xem trong đó có gì và đi săn bắn trong vài tháng. Cũng giống như Pandora trong Thần Thoại Hi Lạp. Sự tò mò đã làm Hằng Nga mở chiệc lọ và tìm thấy viên thuốc, dĩ nhiên nàng đã uống hết viên linh dược mà không biết rằng mỗi người chỉ nên uống nửa viên. Hậu quả thật tai hại, Hằng Nga đã bay về mặt trăng mà không thể cứu vãn được. Kể từ đó cả hai người đã phải sống trong tình cảnh chia lìa, ngăn cách. Ở Khía cạnh lịch sử, Tết Trung Thu được cho là thời điểm kỷ niệm của quân Minh chống lại quân Nguyên vào đầu thế kỷ XIV. Vào thời đó, quân Minh đang nổi dậy chống lại triều đình nhà Nguyên chính vì vậy, việc tụ tập tại những nơi công cộng bị cấm. Thế nên nghĩa quân không thể liên lạc được. Một vị tướng của quân Minh thời đó nhận thấy rằng người Mông Cổ không ăn Bánh Trung Thu, chính vì thế ông ta đã mở một tiệm bán bánh và trong mỗi cái bánh là một miếng giấy nhỏ viết rằng “Giết tất cả bọn Mông Cổ vào ngày 15 tháng 8”. Đêm trung thu năm đó, quân Minh đã tiêu diệt được quân Nguyên và giành chính quyền. Và sau đó là việc thành lập triều đại Nhà Minh 1368 – 1644, dưới sự thống lĩnh của hoàng đế Chu Nguyên Chương. Kể từ đó, Bánh Trung Thu không chỉ có giá trị ở khía cạnh văn hóa mà nó còn chứa đựng trong nó lòng tự hào dân tộc của người Trung Quốc. Chính vì những lý do đó, Tết Trung Thu trở nên một phần không thể thiếu của nền văn hóa Trung Quốc đến nỗi ngày nay rất nhiều người Trung Quốc đặt tên cho con gái họ là Nguyệt với ước mong con gái họ sẽ xinh đẹp, trong sáng và đầy đặn như mặt trăng vậy. Tục lệ ăn bánh hình mặt trăng trong dịp Tết Trung thu đã có từ thời Bắc Tống ở Trung Quốc, cách đây trên năm. Trong đêm 15 tháng 8 Âm lịch hằng năm, khi trăng rằm tỏa sáng, lễ tế thần mặt trăng bắt đầu. Trên bàn thờ có hoa quả, có bánh hình mặt trăng còn gọi là bánh “đoàn viên”, bởi lẽ, trong dịp này, cả gia đình có dịp đoàn tụ để cùng ăn bánh và cùng thưởng thức ánh trăng thu trong trẻo và bầu không khí ấm áp của đêm rằm đến với mọi nhà. Đêm Trung thu, các em rước đèn, múa sư tử. Ngoài Bắc gọi là múa sư tử, trong Nam gọi là múa lân. Lân còn gọi là kỳ lân. Kỳ là tên con đực, lân là tên con cái. Lân là con vật đứng thứ hai trong tứ linh long rồng, lân, qui rùa, phụng phượng hoàng. Lân là con vật thần thoại, thân hươu, móng ngựa, đuôi bò, miệng rộng, mũi to, có một sừng ở ngay giữa trán, lông trên lưng ngũ sắc, lông dưới bụng màu vàng. Tục truyền, lân là con vật hiền lành, chỉ có người tốt mới nhìn thấy nó được. Thoạt nhìn, đầu lân giống đầu sư tử. Do vậy, người ta gọi múa lân thành múa sư tử. ở một vài địa phương, có tục các em rước đèn kéo quân trong dịp Tết Trung thu. Đèn kéo quân hình vuông, cao khoảng 80cm, rộng mỗi bề khoảng 50cm. Bốn mặt đều phết giấy Tàu bạch như giấy bóng mờ hiện nay. Phía trên và phía dưới có đường viền sặc sỡ. Bên trong có một tán giấy hình tròn. Khi đốt đèn, hơi lửa bốc lên, tán giấy xoay quanh. Đèn kéo quân còn gọi là đèn chạy quân vì hình đoàn quân cứ liên tục kéo đi, chạy đi không ngừng hết vòng nọ đến vòng kia. Chỉ khi nào đèn hết dầu nến, đèn tắt thì các tán không quay nữa. Đèn có bốn mặt, hình ảnh xem ở mặt nào cũng được. Tết Trung Thu ở các nước Châu Á có gì đặc sắc? Tết Trung Thu ở các nước Châu Á luôn vui nhộn với nhiều bản sắc văn hóa khác lạ Ở Nhật Bản Ngày nay, người Nhật không còn sử dụng lịch âm lịch, tuy nhiên Tết Trung thu vẫn được tổ chức rầm rộ và được gọi là Lễ ngắm trăng. Ở Hàn Quốc Ngày lễ rằm tháng 8 ở Hàn Quốc có tên Chuseok. Kéo dài trong 3 ngày, là khoảng thời gian mọi người nghỉ ngơi và quanh quần bên gia đình, dù con cái ở xa cũng phải quay về đoàn tụ cùng cha mẹ. Ở Thái Lan Tết Trung thu ở Thái Lan được gọi là “lễ cầu trăng”, tổ chức vào đúng ngày 15/8 âm lịch. Ở Malaysia Người Malaysia cũng thường làm bánh Trung thu trong ngày rằm tháng 8. Ngoài ra, họ cũng thắp đèn lồng trong ngày này. Trong ngày này, người dân cũng tổ chức múa lân, múa sư tử và các hoạt động vui chơi giải trí được yêu thích khác. Ở PhilippinesTết Trung thu ở Philippines thường được tổ chức và lưu truyền bởi những người gốc Hoa sinh sống và làm việc tại nước bản địa. Ở Campuchia Lễ hội trông trăng ở Campuchia diễn ra muộn hơn hẳn, thường là vào rằm tháng 10 âm lịch chứ không phải vào 15/8 như các nước khác./. Video Phim hoạt hình 3D SỰ TÍCH TẾT TRUNG THU ”Đầu tiên của Việt Nam” Lời kết sự tích Tết Trung Thu và ý nghĩa thiết thực ngày nay Việt Nam là một nước nông nghiệp nên nhân lúc tháng Tám gieo trồng đã xong, thời tiết dịu đi, là lúc “muôn vật thảnh thơi”, người ta mở hội cầu mùa, ca hát vui chơi Tết Trung Thu. Người Hoa và người Việt đều làm bánh trung thu để cúng, ăn, biếu thân bằng quyến thuộc, và đãi khách. Điểm chung kế tiếp là người Hoa và người Việt đều tổ chức rước đèn trong đêm trung thu. Trẻ em rất thích ăn bánh Trung thu, múa lân và rước đèn kéo quân. Từ đó, Tết Trung thu nghiễm nhiên trở thành Tết của các em từ hàng ngàn năm nay. Quý doanh nghiêp cần tư vấn ý tưởng chương trình Tết trung thu, vui lòng gọi Công ty Palamun Event để được tư vấn báo giá và hỗ trợ tốt nhất nhé Tết Trung Thu luôn là dịp đặc biệt để các gia đình cùng nhau trải qua những giây phút quây quần bên nhau. Vậy nguồn gốc Tết Trung Thu như thế nào? Sau đây là 4 truyện về sự tích Tết Trung Thu ở Việt Nam ý nghĩa dành tặng bé. Cùng khám phá nhé! Tết Trung thu được coi là một trong những lễ hội cổ truyền của Việt Nam. Tuy nhiên nguồn gốc của Tết Trung Thu thì không phải ai cũng biết. Có rất nhiều truyền thuyết về ngày Tết Trung Thu được lưu truyền ở Việt Nam. Trong đó có 4 sự tích Tết Trung Thu Việt Nam phổ biến nhất. Cụ thể Sự tích Tết Trung Thu 1 Sự tích ngày Tết Trung Thu đầu tiên này bắt nguồn từ Trung Quốc. Theo sách cổ viết, ngày Tết Trung Thu bắt nguồn từ thời vua Duệ Tôn nhà Đường. Nhân một ngày rằm tháng 8 âm lịch trăng tròn đẹp, nhà vua đang đi dạo vườn Thượng Uyển và gặp pháp sư Diệu Pháp Tiên. Vị pháp sư này có phép thần thông đã giúp nhà vua lên cung trăng như ước nguyện. Vấn vương cảnh đẹp cung trăng cũng như những điệu múa tuyệt đẹp của các tiên nga, sau khi trở lại nhân gian, nhà vua đã yêu cầu các nghệ nhân sáng tác ra khúc Nghê Thường Vũ Y được xem trên cung trăng hôm nào. Sau đó, cứ đến ngày rằm tháng 8, nhà vua cho phép người dân rước đèn, bày cỗ để ngắm trăng nhằm hoài niệm ngày đặc biệt được thưởng ngoạn cung trăng. Sau đó, ngày Tết Trung Thu dần dần lan sang thuộc địa và các nước láng giềng của Trung Hoa. Sự tích đầu tiên về ngày Tết đầu tiên Nguồn Sự tích Tết Trung Thu 2 Sự tích Tết Trung Thu thứ 2 liên quan đến Hậu Nghệ – Hằng Nga. Truyện kể là, có một người đôi vợ chồng sống ở Thiên Đình tên là Hậu Nghệ và Hằng Nga. Hậu Nghệ bất tử còn Hằng Nga là tiên nữ cực kỳ xinh đẹp, phục vụ Tây Vương Mẫu. Hằng Nga và Hậu Nghệ bị đố kỵ ghen ghét lớn từ người khác vì sự bất tử và xinh đẹp. Do đó, Hậu Nghệ bị vu oan phạm tội thiên đình trước mặt Vua Nghiêu. Hai vợ chồng bị đuổi khỏi hoàng công, và bị ép phải sống cuộc sống thường dân ở dân gian. Nhờ tài năng của mình, Hậu Nghệ nhanh chóng trở thành một xạ thủ có tiếng. Thời bấy giờ, có tới 10 mặt trời tồn tại cùng một lúc. Mỗi một ngày sẽ có 1 mặt trời chiếu rọi thay phiên nhau. Tuy nhiên, một ngày kia 10 mặt trời đột nhiên cùng xuất hiện một ngày. Nó thiêu cháy hết sinh linh. Trước hoàn cảnh khó khăn ấy, Hậu Nghệ được Vua Nghiêu sai bắn 9 mặt trời. Với tài nghệ của mình, Hậu Nghệ hoàn thành nhiệm vụ một cách dễ dàng. Và để trả ơn Hậu Nghệ, Vua Nghiêu đã tặng cho chàng một viên thuốc trường sinh bất lão và căn dặn rất rõ là khi nào ăn chay, cầu nguyện một năm mới được uống. Nghe lời Vua Nghiêu, Hậu Nghệ đem thuốc về nhau và giấu trên nóc nhà. Nhân một ngày Hậu Nghệ được mời lên kinh thành chơi, Hằng Nga thấy viên thuốc và đã uống ngay lập tức. Và tức thì, Hằng Nga bay về trời trước mắt Hậu Nghệ vừa trở về nhà. Dù cố gắng đuổi theo, Hậu Nghệ không thể vượt qua thần Gió – kẻ cản trở chàng đuổi theo người vợ xinh đẹp. Hằng Nga bay một mạch lên mặt trăng và nôn viên thuốc ra, không thể trở lại nhân gian được nữa. Hai người ngày đêm nhớ thương nhau. Hậu Nghệ xây lâu đài trong mặt trời, đặt tên là “Dương”. Còn Hằng Nga xây một lâu đài trên mặt trăng, đặt tên là “Âm”. Cứ mỗi năm rằm tháng 8 âm lịch, Hằng Nga và Hậu Nghệ đoàn viên với nhau trong niềm hạnh phúc vô hạn. Truyền thuyết về ngày Tết Trung Thu này khá phổ biến vào thời Tây Hán những năm 206 – 24 Trước Công nguyên. Sự tích Hằng Nga – Hậu Nghệ cho Tết Trung Thu Nguồn Sự tích Tết Trung Thu 3 Ngoài ra, còn có một sự tích về ngày Tết Trung Thu khác liên quan đến Hằng Nga và Hậu Nghệ. Truyện kể là, hai người đều là thần bất tử ở thiên đình. Một ngày nọ, con trai thứ 10 của Ngọc Hoàng phân thân tạo thành 10 mặt trời gây ra thảm kịch cho sinh linh dưới dân gian. Trước tình hình này, Hậu Nghệ dùng tài bắn tên xuất thần của mình đã bắn rơi 9 mặt trời và tha chết cho mặt trời thứ 10 – bản thể cuối cùng của con trai Ngọc Hoàng. Và Ngọc Hoàng không chấp nhận việc này nên đày Hậu Nghệ, Hằng Nga xuống nhân gian làm người phàm. Quá nuối tiếc cuộc sống bất tử, Hậu Nghệ bỏ nhà ra đi để tìm thứ thuốc trường sinh bất lão cho mình. Cuối cùng, chàng gặp được Tây Vương Mẫu và được cho linh dược. Bà căn dặn Hậu Nghệ chỉ nên uống một nửa viên thuốc. Đem thuốc về nhà, Hậu Nghệ cẩn thận bỏ trong chiếc lọ và dặn Hằng Nga không mở lọ ra. Sau đó, chàng đi săn vài tháng. Sự tò mò khiến Hằng Nga đã lén Hậu Nghệ mở lọ. Nhìn thấy viên thuốc, Hằng Nga uống hết viên thuốc linh dược. Hậu quả là Hằng Nga bay về mặt trăng và không thể nào trở lại. Từ đó, Hậu Nghệ và Hằng Nga chia cách nhau kẻ ở dân gian và người ở mặt trăng, mãi mãi chia lìa. Phiên bản khác của sự tích ngày Tết Trung Thu liên quan đến Hậu Nghệ, Hằng Nga Nguồn Sự tích bánh Trung Thu Sau khi tìm hiểu 3 sự tích ngày Tết Trung Thu, chúng ta sẽ tìm hiểu về sự tích bánh Trung Thu. Bánh Trung Thu còn có tên gọi là Bánh Trăng, Bánh Hồ, bánh đoàn viên … Bánh Nguyệt là loại bánh có lịch sử lâu dài tại Trung Quốc. Theo sử sách ghi chép, vào thời Ân, Chu tại vùng Triết Gian, có một loại bánh kỷ niệm vị Thái Sư Văn Trọng, được gọi là bánh Thái Sư – được coi là gốc gác của bánh Trung Thu ngày nay. Vào thời Tây Hán, một người tên Trương Thiên đi sang Tây Vực và mang về Trung Quốc hạt hồ đào, hạt mè, hạt dưa hấu để làm nguyên liệu bánh hồ đào dồi dào. Đến thời Đường, có nhiều người hành nghề làm bánh. Vào một đêm Trung thu nọ, Đường Huyền Tông cùng Dương Quý Phi ăn bánh hồ đào và thưởng ngoạn đêm trăng. Nhà vua chê bánh hồ đào có tên không hay nên đã đặt cho bánh tên mới là bánh Nguyệt. Đến thời Tống, tập tục ăn bánh Nguyệt bánh Trung Thu trở nên thịnh hành và phổ biến trong giới quý tộc. Và dần dần, loại bánh này trở thành phổ cập cùng các câu chuyện sự tích ngày Tết Trung Thu lưu truyền ở dân gian. Bánh trung thu ngày càng phong phú nhiều loại hơn, nhưng là bánh ngon thì phải đạt 8 tiêu chí chọn lựa bánh trung thu khi so sánh. Ngày nay, mua bánh Trung Thu là phong tục hết sức quen thuộc của người dân các nước, trong đó có Việt Nam. Sự tích bánh trung thu Nguồn 2. Ý nghĩa của Tết Trung Thu Có thể thấy, qua các sự tích của Tết Trung Thu được kể trên đây, ngày Tết Trung Thu có ý nghĩa đoàn viên. Nó là dịp đặc biệt để các thành viên gia đình sum vầy, hàn huyên, thưởng thức bánh trung thu, rước đèn và phá cỗ đêm trăng cùng nhau. Ngoài ra, nó còn là dịp người lớn mua đồ chơi dân gian mang đậm văn hóa Việt cho trẻ con, cùng tạo ra những kỷ niệm tuổi thơ đáng nhớ cho các bé. Không ngoại lệ, Tết Trung Thu sắp đến, các gia đình cần chuẩn bị bánh trung thu ngon dẻo mềm, chọn mua hoa quả tươi theo mùa vụ, lồng đèn và quà tặng cho bé dịp Tết Trung Thu trên Adayroi để có thể lựa chọn được những thức quà chất lượng tốt nhất với giá cả và chính sách bán hàng hấp dẫn nhất. Đặc biệt, khi mua tại Adayroi, bạn được hỗ trợ giao hàng tận nhà – vô cùng thuận tiện cho những người không có nhiều thời gian, quá bận rộn. Trên đây là 4 truyện sự tích Tết Trung thu ý nghĩa được truyền miệng trong dân gian. Sắm mâm cỗ Trung Thu truyền thống tại Adayroi vui đón trăng rằm nhận ưu đãi đặc biệt nhé. Tết Trung Thu là cái Tết lớn thứ ba trong năm. Từ hình ảnh tròn của vầng trăng, con người thuở xưa đã ký thác tư tưởng của mình thành một biểu tượng đó là chiếc bánh tròn mà người ta gọi nó là Nguyệt Bính. Ngắm trăng thu mà không ăn Nguyệt Bính sẽ là vô thống Ăn! Người Việt ta vốn coi trọng truyền thống "ăn," do đó thường dành một món ăn đặc thù cho mỗi dịp tết nhất hội hè. Theo cổ tục, người Việt trong quá khứ đã từng ăn bánh chưng, bánh dầy vào Tết Nguyên Đán; ăn bánh trôi, bánh chay vào Tết Hàn Thực; ăn rượu nếp, bánh tro, bánh ú vào Tết Đoan Ngọ; ăn heo quay cúng ngày Rằm Tháng Bảy; ăn bánh dẻo, bánh nướng vào Tết Trung Thu; uống rượu cúc vào tiết Trùng nay, nhiều cổ tục trên đã biến mất, tuy nhiên tập tục ăn bánh Trung Thu vẫn thịnh hành. Trước đây, nhiều người tự hào từng ăn bao nhiêu bánh mua từ những tiệm như Đông Hưng Viên, Đồng Khánh, Tân Tân, Á Đông, nhưng mấy ai biết bánh Trung Thu có một sự tích lâu đời, mang nhiều biến thái qua không gian và thời gian và nhất là mang nhiều giai thoại lý thú. Chẳng hạn như sau 1975, dù kinh tế chật vật, bánh Trung Thu không hề ế, và bánh Trung Thu vẫn đóng vai trò quà "hữu nghị" trong sự giao tế với giới chức cửa quyền, cũng như ngày trước, một viên chánh sự vụ Bộ Kinh Tế chỉ cần hứa ký một giấy phép cho nhập hàng ngoại hóa từng được biêù một khay bánh Trung Thu tròn lớn, trên có con rồng có cặp mắt long lanh. Bà vợ mừng hụt hơi khi khám phá ra mắt rồng là một cặp hột xoàn 7, 8 li và bụng bánh chứa toàn vàng lá. Và cách đây ba năm, 50 công nhân của công ty thực phẩm Đồng Khánh hay nhà hàng Đồng Khánh cũ bị quốc doanh hoá đã làm một cái bánh nướng khổng lồ kỷ lục cho 10,000 người ăn, nặng 735 kilô, đường kính 2 thước, cao 4 tấc. Bánh Trung Thu ở Việt Nam và ở Trung Hoa Ở VN từ xưa đến nay, bánh Trung Thu gồm hai hình thức dẻo và nướng. Bánh dẻo làm bằng bột nếp trắng tinh nhồi với đường với nước hoa bưởi thơm lừng, đúc trong khuôn gỗ thường hình tròn, nhân làm bằng hột sen hay đậu xanh tán nhuyễn là chiếc bánh Trung Thu mang sắc thái VN hơn bánh nướng. Theo khẩu vị Hà Nội, bánh dẻo thường ngọt sắc hơn trong Nam. Đường kính của bánh thường rất lớn, có thể gần bằng chiếc mâm, để thể hiện hình dáng của vầng trăng thu lớn và trắng ngà trong biểu tượng của ý nghĩa "đoàn viên của gia đình" và nhất là tình yêu khắng khít vợ chồng"Đêm khuya chung bóng trăng tròn sánh vai" Kiều. Bánh nướng Trung Thu hầu như vẫn trong bí quyết chế biến của dân Việt gốc Hoạ Hình dáng bánh nướng thường vuông hay tròn, thường đựng vừa khít bốn chiếc trong một cái hộp giấy vuông. Vỏ bánh làm bằng bột mì dậy men trộn với trứng gà và chút rượu, nhân thì có thể thuần tuý thường làm bằng đậu xanh, khoai môn, hay hột sen tán nhuyễn bao bọc lấy một hay hai tròng đỏ trứng vịt muối có mùi vani hay sầu riêng hoặc là nhân thập cẩm gồm đủ thứ như dăm bông, thịt quay, vi yến, dừa, hạt dưa, vỏ quít, ngó sen, bí đao. Một điểm cần biết là những chiếc bánh nướng Trung Hoa mà chúng ta quen ăn ở VN hay mua tại những tiệm Hoa đại đa số ở hải ngoại chính là thoát thai từ kiểu thức và khẩu vị của vùng Quảng Đông bên Trung Hoa với những đặc điểm sau vỏ bánh có vị ngọt, bánh đúc từ khuôn gỗ, còn về nhân thì thập cẩm bao gồm đến 200 loại vô cùng phong phú. Về mặt thưởng thức, bánh nướng mới ra lò ăn không ngon vì vỏ khô cứng mà phải chờ ba ngày sau, mỡ trong lớp nhân mới rịn ra làm bánh ăn mềm và thơm ngon. Mặc dù người ta quảng cáo bánh có thể bảo quản lâu đến một tháng nhưng điều kiện khí hậu bình thường thì bánh chỉ nên ăn trong vòng hai tuần là tối đa nếu không thì ngửi khét dầu và làm sình bụng. Nhìn qua lục địa Trung Quốc vốn là cái nôi khai sinh ra tục ăn bánh Trung Thu thì chúng ta thấy hình thức của chúng rất khác và thay đổi tùy theo tình trạng thổ sản, môi trường kinh tế và khẩu vị của từng địa phương như sau - Kiểu Tô Châu có một lịch sử gốc gác hơn 1,000 năm. Tại vùng này, đếm ra có hơn cả tá kiểu thức mà phổ thông nhất là chiếc bánh Kim-Thuỷ Mai-Quế Nguyệt Bính nặn bằng tay, vỏ bánh mỏng chứa nhân bằng trái cây hay hạt tán nhuyễn. Bánh kiểu Tô Châu nổi danh với lớp vỏ làm bằng bột lên men thành từng lớp mỏng tanh, ăn ngọt và béo. - Kiểu Bắc Kinh có hai biến thể một gọi là bánh "Ti-chiang" đề tương chịu ảnh hưởng Tô Châu, khác chăng là vỏ xốp nhẹ hơn là từng lớp mỏng như bánh Tô Châu; hai là bánh "Fan Mao" phiến mao - nhẹ như lông, vỏ bánh nhẹ tơi màu trắng, nhân bánh có vị dược liệu Sơn Tra. Bánh Bắc Kinh là bánh cung đình nên trang hoàng tỉ mỉ rất ngon mắt và rất hấp dẫn gợi thèm. - Kiểu Ninh Ba thoát thai từ kiểu Tô Châu và rất thịnh hành ở vùng Chiết Giang. Vỏ bánh đặc chắc chứa nhân dăm-bông hay hải tảo, điểm mùi gia vị cay và mặn. - Kiểu Vân-Nam được dân điạ phương gọi là "T'o," có vỏ làm bằng nhiều thứ bột phối hợp của gạo, lúa mạch, có vị ngọt. - Kiểu Quảng Đông rất quen thuộc với dân VN về những đặc điểm như đã nói trên. - Kiểu Đài Loan gọi là "Nguyệt quang bính" với nhân làm bằng khoai lang, ăn rất ngọt, mềm và không ớn. Trên thực tế, người Hoa quen dùng bốn tiếng sau để gọi bốn kiểu thức theo bốn địa phương chính là Bình Tô Quảng Đài Bình hoặc Ping chỉ Bắc Bình hay Bắc Kinh, Tô Su - tức Tô châu, Quảng Kuang - tức Quảng Đông, Đài Tai chỉ Đài Loan. Ngoài ra, người ta còn phân biệt bánh mặn huân dùng mỡ heo và bánh chay tố trai dùng dầu mè. Ở vùng Đông Nam Á, chiếc bánh Trung thu cũng bị biến thái, ví dụ như bánh kiểu Mã Lai thì vỏ bọc bằng súc cu la và có nhân bằng đậu đỏ và dầu mè, hoặc có nhân hạt sen và nhiều thứ lá thơm ngọt; bánh kiểu Hương cảng có nhân đậu nành thơm vị cam, hột sen trắng, đậu đen và lá trà. Ở VN, tại Sài Gòn và Chợ Lớn những nhà sản xuất như Kinh Đô, Đồng Khánh, Ái Huê, Hỉ Lâm Môn còn chế những bánh nhân cùi dừa, ngó sen trộn sữa, sầu riêng, đậu xanh và những loại hạt giẻ. Có nhà lại chế thêm nhiều rượu whisky, lại có nhà quảng cáo làn bánh Trung Thu "kiểu đai-ét" tbớt ngọt và không có cholesterol theo nhu cầu y tế thời thượng. Sự tích Tết trung thu thứ 1 Một truyền thuyết khác đã cho rằng Hằng Nga và Hậu Nghệ đều là những vị thần bất tử sống trên thiên đình. Một ngày kia, người con trai thứ 10 của Ngọc Hoàng đã phân thân thành mười mặt trời từ đó gây nên thảm kịch cho loài người. Trước tình hình đó, Hậu Nghệ, với tài bắn tên của mình đã bắn rơi 9 mặt trời nhưng vì tình cảm, đã tha chết cho bản thể thứ 10 của con trai của Ngọc Hoàng. Dĩ nhiên, Ngọc Hoàng không chấp nhận và rất phật ý. Ông ta đã trừng phạt Hậu Nghệ và Hằng Nga bằng cách bắt họ phải sống cuộc đời con người ở trần thế. Sau khi xuống trần thế, hối tiếc cuộc sống bất tử đã qua, Hậu Nghệ đã bỏ nhà ra đi tìm thứ thuốc có thể trường sinh bất lão. Cuối cùng, chàng tìm thấy Tây Vương Mẫu, bà đã cho Hậu Nghệ linh dược, nhưng dặn rằng mỗi người chỉ nên uống nửa viên để có được sự sống trường tồn. Hậu Nghệ đem viên thuốc về nhà và để nó trong một chiếc lọ. Chàng đã cảnh báo Hằng Nga không được mở chiếc lọ ra để xem trong đó có gì và đi săn bắn trong vài tháng. Cũng giống như Pandora trong Thần Thoại Hi Lạp. Sự tò mò đã làm Hằng Nga mở chiệc lọ và tìm thấy viên thuốc, dĩ nhiên nàng đã uống hết viên linh dược mà không biết rằng mỗi người chỉ nên uống nửa viên. Hậu quả thật tai hại, Hằng Nga đã bay về mặt trăng mà không thể cứu vãn được. Kể từ đó cả hai người đã phải sống trong tình cảnh chia lìa, ngăn cách. Ở Khía cạnh lịch sử, Tết Trung Thu được cho là thời điểm kỷ niệm của quân Minh chống lại quân Nguyên vào đầu thế kỷ XIV. Vào thời đó, quân Minh đang nổi dậy chống lại triều đình nhà Nguyên chính vì vậy, việc tụ tập tại những nơi công cộng bị cấm. Thế nên nghĩa quân không thể liên lạc được. Một vị tướng của quân Minh thời đó nhận thấy rằng người Mông Cổ không ăn Bánh Trung Thu, chính vì thế ông ta đã mở một tiệm bán bánh và trong mỗi cái bánh là một miếng giấy nhỏ viết rằng “Giết tất cả bọn Mông Cổ vào ngày 15 tháng 8”. Đêm trung thu năm đó, quân Minh đã tiêu diệt được quân Nguyên và giành chính quyền. Và sau đó là việc thành lập triều đại Nhà Minh 1368 – 1644, dưới sự thống lĩnh của hoàng đế Chu Nguyên Chương. Kể từ đó, Bánh Trung Thu không chỉ có giá trị ở khía cạnh văn hóa mà nó còn chứa đựng trong nó lòng tự hào dân tộc của người Trung Quốc. Chính vì những lý do đó, Tết Trung Thu trở nên một phần không thể thiếu của nền văn hóa Trung Quốc đến nỗi ngày nay rất nhiều người Trung Quốc đặt tên cho con gái họ là Nguyệt với ước mong con gái họ sẽ xinh đẹp, trong sáng và đầy đặn như mặt trăng vậy. Tục lệ ăn bánh hình mặt trăng trong dịp Tết Trung thu đã có từ thời Bắc Tống ở Trung Quốc, cách đây trên năm. Trong đêm 15 tháng 8 Âm lịch hằng năm, khi trăng rằm tỏa sáng, lễ tế thần mặt trăng bắt đầu. Trên bàn thờ có hoa quả, có bánh hình mặt trăng còn gọi là bánh “đoàn viên”, bởi lẽ, trong dịp này, cả gia đình có dịp đoàn tụ để cùng ăn bánh và cùng thưởng thức ánh trăng thu trong trẻo và bầu không khí ấm áp của đêm rằm đến với mọi nhà. Đêm Trung thu, các em rước đèn, múa sư tử. Ngoài Bắc gọi là múa sư tử, trong Nam gọi là múa lân. Lân còn gọi là kỳ lân. Kỳ là tên con đực, lân là tên con cái. Lân là con vật đứng thứ hai trong tứ linh long rồng, lân, qui rùa, phụng phượng hoàng. Lân là con vật thần thoại, thân hươu, móng ngựa, đuôi bò, miệng rộng, mũi to, có một sừng ở ngay giữa trán, lông trên lưng ngũ sắc, lông dưới bụng màu vàng. Tục truyền, lân là con vật hiền lành, chỉ có người tốt mới nhìn thấy nó được. Thoạt nhìn, đầu lân giống đầu sư tử. Do vậy, người ta gọi múa lân thành múa sư tử. ở một vài địa phương, có tục các em rước đèn kéo quân trong dịp Tết Trung thu. Đèn kéo quân hình vuông, cao khoảng 80cm, rộng mỗi bề khoảng 50cm. Bốn mặt đều phết giấy Tàu bạch như giấy bóng mờ hiện nay. Phía trên và phía dưới có đường viền sặc sỡ. Bên trong có một tán giấy hình tròn. Khi đốt đèn, hơi lửa bốc lên, tán giấy xoay quanh. Đèn kéo quân còn gọi là đèn chạy quân vì hình đoàn quân cứ liên tục kéo đi, chạy đi không ngừng hết vòng nọ đến vòng kia. Chỉ khi nào đèn hết dầu nến, đèn tắt thì các tán không quay nữa. Đèn có bốn mặt, hình ảnh xem ở mặt nào cũng được. Trẻ em rất thích ăn bánh Trung thu, múa lân và rước đèn kéo quân. Từ đó, Tết Trung thunghiễm nhiên trở thành Tết của các em từ hàng ngàn năm nay. Sự tích Tết trung thu thứ 2 Người Việt ta ăn Tết Trung Thu vào ngày rằm tháng tám âm lịch là do ta phỏng theo phong tục của người Tàu. Chuyện xưa kể rằng vua Đường Minh Hoàng 713-741 Tây Lịch dạo chơi vườn Ngự Uyển vào đêm rằm tháng tám âm lịch. Trong đêm Trung Thu, trăng rất tròn và trong sáng. Trời thật đẹp và không khí mát mẻ. Nhà vua đang thưởng thức cảnh đẹp thì gặp đạo sĩ La Công Viễn còn được gọi là Diệp Pháp Thiện. Đạo sĩ có phép tiên đưa nhà vua lên cung trăng. Ở đấy, cảnh trí lại càng đẹp hơn. Nhà vua hân hoan thưởng thức cảnh tiên và du dương với âm thanh ánh sáng huyền diệu cùng các nàng tiên tha thướt trong những xiêm y đủ màu xinh tươi múa hát. Trong giờ phút tuyệt vời ấy nhà vua quên cả trời gần sáng. Đạo sĩ phải nhắc, nhà vua mới ra về nhưng trong lòng vẫn bàng hoàng luyến tiếc. Về tới hoàng cung, nhà vua còn vấn vương cảnh tiên nên đã cho chế ra Khúc Nghê Thường Vũ Y và cứ đến đêm rằm tháng tám lại ra lệnh cho dân gian tổ chức rước đèn và bày tiệc ăn mừng trong khi nhà vua cùng với Dương Quí Phi uống rượu dưới trăng ngắm đoàn cung nữ múa hát để kỷ niệm lần du nguyệt điện kỳ diệu của mình. Kể từ đó, việc tổ chức rước đèn và bày tiệc trong ngày rằm tháng tám đã trở thành phong tục của dân gian. Cũng có người cho rằng tục treo đèn bày cỗ trong ngày rằm tháng tám âm lịch là do ở điển tích ngày sinh nhật của vua Đường Minh Hoàng. Vì ngày rằm tháng tám là ngày sinh nhật của vua Đường Minh Hoàng nên triều đình nhà Đường đã ra lệnh cho dân chúng khắp nơi trong nước treo đèn và bày tiệc ăn mừng. Từ đó, việc treo đèn bày cỗ trong ngày rằm tháng tám trở thành tục lệ. Lại có chuyện kể rằng một vị tướng tên là Lưu Tú ở đời nhà Tây Hán, từ năm 206 trước Tây lịch tới năm 23 Tây lịch, trong lúc quân tình khốn quẫn đã cầu Thượng Đế giúp cho quân lính có đồ ăn để chờ quân tiếp viện. Sau khi cầu Thượng Đế, quân lính tìm được khoai môn và bưởi để ăn. Nhờ đó sau này Lưu Tú mới bình định được toàn quốc và lên làm vua tức là vua Quang Võ nhà Hậu Hán. Ngày mà Lưu Tú cầu được linh ứng là ngày rằm tháng tám. Từ đó nhà vua truyền lệnh cứ đến rằm tháng tám là làm lễ tạ trời đất và thưởng trăng bằng khoai môn và bưởi. Ngày lễ trọng thể vui tươi này được gọi là Tết Trung Thu. Tục lệ này được truyền sang Việt Nam và đã được người Việt sửa đổi để thích hợp với tính tình và phong tục Việt. Theo các nhà khảo cổ học thì Tết Trung Thu ở Việt Nam có từ thời xa xưa, đã được in trên mặt trống đồng Ngọc Lũ. Còn theo văn bia chùa Đọi năm 1121 thì từ đời nhà Lý, Tết Trung Thu đã được chính thức tổ chức ở kinh thành Thăng Long với các hội đua thuyền, múa rối nước và rước đèn. Đến đời Lê – Trịnh thì Tết Trung Thu đã được tổ chức cực kỳ xa hoa trong phủ Chúa. Nghiên cứu về nguồn gốc Tết Trung Thu, theo học giả trong Magiet Religion, Paris, 1912 thì từ xa xưa, ở Á Đông người ta đã coi trọng Mặt Trăng và Mặt Trời, coi như một cặp vợ chồng. Họ quan niệm Mặt Trăng chỉ sum họp với Mặt Trời một lần mỗi tháng vào cuối tuần trăng. Sau đó, từ ánh sáng của chồng, nàng trăng mãn nguyện đi ra và dần dần nhận được ánh dương quang – trở thành trăng non, trăng tròn, để rồi lại đi sang một chu kỳ mới. Do vậy, trăng là âm tính, chỉ về nữ và đời sống vợ chồng. Và ngày Rằm tháng Tám, nàng trăng đẹp nhất, lộng lẫy nhất, nên dân gian làm lễ mở hội ăn Tết mừng trăng. Còn theo sách “Thái Bình hoàn vũ ký” thì “Người Lạc Việt cứ mùa Thu tháng Tám thì mở hội, trai gái giao duyên, ưng ý nhau thì lấy nhau”. Như vậy, mùa Thu là mùa của thành hôn. Việt Nam là một nước nông nghiệp nên nhân lúc tháng Tám gieo trồng đã xong, thời tiết dịu đi, là lúc “muôn vật thảnh thơi”, người ta mở hội cầu mùa, ca hát vui chơi Tết Trung Thu. Người Hoa và người Việt đều làm bánh trung thu để cúng, ăn, biếu thân bằng quyến thuộc, và đãi khách. Điểm chung kế tiếp là người Hoa và người Việt đều tổ chức rước đèn trong đêm trung thu. NPP BÁNH TRUNG THU CỐNG QUỲNH Công Ty TNHH Thương Mại Dịch Vụ Trường Vân MST 0312840445 Địa chỉ 20 Hồ Hảo Hớn, P. Cô Giang, Quận 1, CN Thủ Đức 33 Đường 48, Phường Hiệp Bình Chánh, Quận Thủ Đức, TP HCM. Hotline 0906 309 885 0933 138 885 0906 986 885 Tel 028 38374987 Fax 028 38360973 Email kinhdoanh banhtrungthu999 Website Facebook Bánh Trung Thu Kinh Đô – Givral –Brodard – Như Lan Chiết Khấu Cao, Giao Hàng Nhanh. NPP bánh trung thu Cống Quỳnh Địa chỉ MUA BANH TRUNG THU 2020 UY TIN TP HO CHI MINH.

sự tích tết trung thu việt nam